mardi 13 janvier 2026

Phúc Lai – Về cuộc chiến tranh xâm lược Ukraine của Putler ngày 11/01/2026

 

 

PHẦN BA : TRẬT TỰ THẾ GIỚI MỚI HẬU KỊCH BẢN SỤP ĐỔ LỚN – DỰ BÁO GÌ CHO NĂM 2026 ?

(Kịch bản xa hậu chiến tranh. Những hình dung địa chính trị)

PHẦN BA CHẤM HAI. THÁCH THỨC VÀ CƠ HỘI CỦA NHẬT BẢN

1. Những vấn đề về ní nuận

Không thể không nhắc đến Nhật Bản, vì nước này là một mảnh ghép gần như cuối cùng để hoàn thiện bức tranh năm 2026. Sự xuất hiện của bà Sanae Takaichi – nữ Thủ tướng đầu tiên trong lịch sử Nhật Bản (nhậm chức tháng 10/2024 và đang cầm quyền mạnh mẽ trong năm 2025) – chính là biến số khiến chúng ta phải băn khoăn suy nghĩ, đặt câu hỏi về diễn tiến địa chính trị khu vực và toàn cầu sẽ ra sao.

Đây là những nét chính, dù rất sơ lược về những hành động của bà Takaichi, người được mệnh danh là « Bà đầm thép » của Nhật Bản. Vốn là học trò xuất sắc của cố Thủ tướng Shinzo Abe, đang thực hiện những động thái tạm gọi là « quyết liệt » :

1.1. Phá bỏ xiềng xích “Chủ nghĩa hòa bình”

Bà Takaichi không giấu diếm ý định đưa Nhật Bản trở thành một cường quốc quân sự “bình thường” (không có vũ khí hạt nhân). Bà đã đẩy nhanh lộ trình tăng chi tiêu quốc phòng, đưa Nhật Bản trở thành quốc gia có ngân sách quốc phòng lớn thứ ba thế giới với việc chi tiêu quốc phòng của Nhật Bản sẽ đạt 2 % GDP. Nhật Bản dưới thời bà đang tích trữ hàng ngàn tên lửa tầm xa (như Tomahawk và tên lửa nội địa Type-12 cải tiến) có khả năng bắn tới các căn cứ quân sự của Nga ở Viễn Đông, như vậy về chiến lược là tăng cường năng lực tấn công/phản công của lực lượng vũ trang Nhật Bản.

Cũng không loại trừ nếu tình hình quốc tế tiếp tục phát triển diễn biến xấu hơn theo hướng “hỗn loạn hóa”, Nhật Bản sẽ phát triển vũ khí hạt nhân của riêng mình.

1.2. Vấn đề “Lãnh thổ phương Bắc” (Quần đảo Kuril)

Khác với sự mềm mỏng của các đời Thủ tướng trước, bà Takaichi coi việc Nga chiếm giữ 4 hòn đảo phía Bắc là một sự “chiếm đóng trái phép” cần được giải quyết dứt điểm. Trong hoàn cảnh cuộc chiến tranh của Putler ở Ukraine hiện nay đang làm xuất hiện cơ hội tận dụng sự suy yếu của Nga. Không khó khăn để một người như bà Takaichi hiểu rằng khi Nga “rút rỗng” các nhóm quân phòng thủ Viễn Đông vứt vào chiến trường Ukraine, đây là cơ hội ngàn năm có một để Nhật Bản gia tăng áp lực đòi lại vùng lãnh thổ này.

Điều đáng nói rằng, trước cả bà Takaichi, Nhật Bản là quốc gia châu Á quyết liệt nhất trong việc viện trợ Ukraine. Ukraine cách đây 4 năm, và Venezuela cách đây một tuần, không khác nhau quá nhiều nếu xét từ góc độ nước lớn bắt nạt nước nhỏ, vì vậy ủng hộ Ukraine cũng chính là ủng hộ tư tưởng các nước nhỏ hơn về địa lý, cần được bảo vệ bởi một định chế quốc tế. Khi những nước lớn phá bỏ định chế, thì những nước nhỏ phải đoàn kết với nhau để tự bảo vệ mình. Chưa hết, việc giúp Ukraine đánh bại Nga chính là cách gián tiếp để Nhật Bản lấy lại vị thế tại Kuril.

1.3. Đối đầu trực diện với trục Nga – Trung

Các đời Thủ tướng Nhật Bản cho đến bà Takaichi đều rất tỉnh táo trước sự bắt tay của Putler và Tập Cận Bình. Trong khi Mỹ của Trump có thể « vô tích sự » – gây thương chiến rồi lại mặc cả với Trung Quốc (mà thua chứ đâu có thắng !), Nhật Bản đến tận thời bà Takaichi, từ khi cuộc chiến tranh xâm lược toàn diện Ukraine của Putler bùng nổ, lại đang cho thấy họ cần và bắt tay xây dựng một “Tiểu NATO phương Đông” tại Thái Bình Dương. Hiện tại liên minh đang manh nha hình thành có Nhật – Úc – Philippines ; và điều đáng chú ý nhất là họ có liên kết chặt chẽ với các nước Đông Âu (đặc biệt là Ba Lan và Ukraine).

Trong bối cảnh cuộc chiến tranh khi mà Putler còn tại vị, nước Nga chưa tan rã, Nhật Bản tích cực hỗ trợ Ukraine cả về tài chính lẫn thông tin tình báo (từ vệ tinh quân sự như tôi đã phân tích). Và tôi không nghi ngờ rằng, bất cứ tàu nào trong “hạm đội bóng tối” của Nga xuất phát từ các cảng dầu thô Viễn Đông, có thể qua mắt được Nhật Bản và đương nhiên, nó sẽ nằm trên bàn của giới chức quân sự Ukraine. Từ đầu chiến tranh, đã có rất nhiều sự chuyển quân và khí tài của Nga từ các căn cứ Viễn Đông, Sakhalin chẳng hạn, về chiến trường Ukraine được Nhật Bản báo cho lãnh đạo Ukraine biết.

Tạm nhận xét : Nhật Bản đang chuẩn bị cho kịch bản Nga sụp đổ năm 2026 bằng cách tăng cường hiện diện hải quân ở biển Okhotsk, sẵn sàng lấp đầy khoảng trống quyền lực nếu các quân khu Viễn Đông của Nga tan rã. Cụ thể hơn như thế nào, tôi xin sang mục tiếp theo.

2. Triển khai những vấn đề về ní nuận trên đây

2.1. Về “chủ nghĩa hòa bình” của Nhật Bản

Cho đến nay, Hiến pháp Nhật Bản vẫn không cho phép nước này có quân đội, nên vẫn đang tồn tại “Cục phòng vệ Nhật Bản” tuy lực lượng của họ mạnh hơn rất nhiều quân đội trên thế giới. Việc bà Sanae Takaichi (một nhân vật theo đường lối bảo thủ cứng rắn) nắm giữ tầm ảnh hưởng lớn tại Nhật Bản đang đánh dấu một kỷ nguyên “Cáo biệt hòa bình chi chủ nghĩa” (chấm dứt chủ nghĩa hòa bình thụ động). Như trên đây tôi đã khái quát sơ bộ, việc Nhật Bản trở thành cường quốc quân sự “bình thường” với năng lực tấn công tầm xa đang cho chúng ta đang thấy một Nhật Bản không còn chỉ cầm “khiên” mà đã bắt đầu mài “kiếm.”

Việc tích trữ tên lửa Tomahawk và cải tiến Type-12 (tầm bắn trên 1.000 km) không đơn thuần là để phòng thủ. Với tên lửa tầm xa cùng năng lực ngày càng phát triển của hệ thống quan sát từ không gian, Nhật Bản có thể khóa chặt các eo biển chiến lược (như Soya hay Tsugaru), đặt các nhóm quân như Hạm đội Thái Bình Dương của Nga hoặc bất cứ nhóm nào khác vào nguy cơ bị tấn công tiêu diệt. Việc Ukraine phát triển rất thành công drone mặt nước đã vô hiệu hóa khả năng khống chế biển Đen của Hạm đội Hắc Hải Nga. Nhật Bản hoàn toàn có thể học hỏi khía cạnh này, cũng như hợp tác với Ukraine để phát triển những loại vũ khí mới tốt hơn trong tương lai.

Chiến tích của Ukraine với các loại drone mặt nước (như Sea Baby hay Magura V5) đã chứng minh, một quốc gia không cần hạm đội tàu chiến khổng lồ vẫn có thể đánh đuổi một hạm đội truyền thống ra khỏi vùng biển của mình. Nếu Nhật Bản triển khai hàng ngàn drone mặt nước tự sát quanh quần đảo Kuril hoặc dọc theo chuỗi đảo phía Nam (gần Đài Loan), các tàu sân bay và tàu khu trục đắt đỏ của Trung Quốc hay Nga sẽ trở thành những “bia tập bắn” khổng lồ. Nhật Bản hiện đang sở hữu công nghệ tự động hóa và cảm biến hàng đầu thế giới. Nếu kết hợp với kinh nghiệm thực chiến của Ukraine, họ có thể tạo ra những thế hệ drone có khả năng tàng hình cao hơn, tầm bắn xa hơn và trí tuệ nhân tạo (AI) thông minh hơn để tấn công theo bầy đàn (swarming).

+ Đánh giá về tương quan lực lượng hai bên : Trung Quốc – Nhật Bản sau chiến tranh Nga – Ukraine, Nhật Bản có thể tận dụng cực tốt hiểu biết của người Ukraine về điểm mạnh điểm yếu của các loại tàu chiến Nga (vốn cũng là nền tảng của nhiều tàu chiến Trung Quốc). Khi có xung đột xảy ra, câu chuyện không phải như Ukraine đang sản xuất drone trong các xưởng nhỏ lẻ để tránh tên lửa Nga, Nhật Bản có thể đưa việc sản xuất này vào các nhà máy tự động hóa khổng lồ (như của Mitsubishi hay Kawasaki) để tạo ra số lượng áp đảo trong thời gian ngắn. Hai nước có thể cùng phát triển drone tích hợp tên lửa tầm ngắn hoặc drone có khả năng lặn dưới nước để tránh radar, tạo ra một mối đe dọa đa tầng mà không một hệ thống phòng thủ nào hiện nay có thể chống đỡ hoàn toàn.

Cuộc chiến tranh về năng lực phòng không hiện nay ở Ukraine cũng là điều kiện cực tốt để rút kinh nghiệm cho Nhật Bản. Chúng ta hoàn toàn không nghi ngờ rằng nếu có xung đột ở Đông Bắc Á, thì hải chiến và không chiến sẽ chiếm tỉ trọng lớn nhất, việc triển khai lục quân sẽ là sau cùng và thứ yếu. Năng lực phòng không của Nga và bây giờ là Trung Quốc, dần bị phơi bày là khá dễ bị vô hiệu hóa trước chiến tranh điện tử của phương Tây. Việc Trung Quốc gần như công khai ủng hộ Nga trong chiến tranh xâm lược Ukraine, sẽ đẩy Ukraine chọn phe nếu Trung Quốc có xung đột, đặc biệt với Nhật Bản. Nếu Ukraine đã thu hồi được Crimea, tên lửa từ Crimea bay đến Tân Cương chỉ 4000 ki-lô-mét. Đây là kịch bản rất nghiêm trọng cho Trung Quốc.

Hiện tại, Nhật Bản chưa sở hữu loại tên lửa nào có tầm bắn lên tới 5.000 km (tầm bắn này được xếp vào loại Tên lửa đạn đạo tầm trung – IRBM). Tuy nhiên, bối cảnh an ninh thay đổi đang khiến Tokyo thực hiện những bước nhảy vọt chưa từng có trong công nghệ tên lửa. Hiện tại, Nhật Bản đang tập trung vào khả năng “phản kích” với các loại vũ khí có thể bắn tới các căn cứ quân sự tại Viễn Đông (Nga) hoặc ven biển Trung Quốc, như tôi đã kể trên đây, hai loại chính họ đang sở hữu là :

- Tomahawk (Mua của Mỹ) : Tầm bắn khoảng 1.600 km. Nhật Bản đã đẩy nhanh tiến độ mua hàng trăm quả tên lửa này để có năng lực răn đe Ngay lập tức.

- Type-12 cải tiến (Nội địa) : Nhật đang nâng cấp tên lửa diệt hạm Type-12 từ tầm bắn 200 km lên 1.000 – 1.500 km. Đây là vũ khí chủ lực để kiểm soát các eo biển và bảo vệ chuỗi đảo.

Nhật Bản đang phát triển các loại vũ khí có khả năng nới rộng tầm bắn rất nhanh, với những dự án như HVGP (Hyper Velocity Gliding Projectile tức các “khối thiết bị lượn siêu vượt âm”, giai đoạn đầu chúng chỉ có tầm bắn ngắn, nhưng các phiên bản tiếp theo được dự đoán sẽ đạt mức 2.000 – 3.000 km ; và các dự án tên lửa hành trình siêu vượt âm “Hypersonic Cruise Missile” (viết tắt là HCM) đang trong quá trình nghiên cứu với mục tiêu bắn tới các mục tiêu sâu trong lục địa hoặc các hạm đội xa bờ. Câu chuyện của các loại tên lửa tầm xa, tên lửa lai drone của Ukraine đặt Nhật Bản vào một tình huống cực kỳ triển vọng trong gia tăng năng lực.

Nếu Nhật Bản sở hữu tên lửa tầm bắn 5.000 km, họ sẽ sở hữu khả năng tấn công chiến lược. Khi đó từ Tokyo, Nhật Bản có thể bắn tới tận New Delhi, toàn bộ Trung Quốc, phần lớn lãnh thổ Nga phần đông dãy Ural và thậm chí là các căn cứ của Mỹ ở Guam. Tầm bắn 5.000 km thường đi đôi với tư duy về vũ khí hạt nhân : Một tên lửa thông thường (đầu đạn thuốc nổ) ở tầm bắn này thường không mang lại hiệu quả kinh tế/quân sự cao bằng tên lửa hành trình tầm ngắn hoặc drone. Vì vậy nếu Nhật Bản kết hợp năng lực điện tử chính xác của mình với công nghệ tên lửa Ukraine, thì đúng là thảm họa cho cả Trung Quốc lẫn Bắc Triều Tiên, và cả Nga luôn.

Dù chưa có tên lửa 5.000 km, nhưng Nhật Bản có công nghệ tên lửa đẩy Epsilon (dùng để phóng vệ tinh). Về mặt kỹ thuật, Epsilon là một tên lửa nhiên liệu rắn rất hiện đại. Nếu Nhật Bản quyết định chuyển đổi mục đích sang quân sự, họ có thể nhanh chóng biến nó thành một tên lửa đạn đạo liên lục địa (ICBM) với tầm bắn vượt xa con số 5.000 km. Tuy Nhật Bản hiện chưa có (và cũng chưa cần đến tầm bắn 5.000 km để bảo vệ mình hay kiềm tỏa Viễn Đông) các loại tên lửa tầm bắn 1.500 – 2.500 km kết hợp với drone mặt nước đã đủ để tạo ra một “vùng cấm” tuyệt đối quanh quần đảo Nhật Bản. Nhưng với chiến lược địa chính trị Đông Bắc Á, nếu Nhật tiến tới ngưỡng 5.000 km, đó sẽ là tuyên bố chính thức về việc họ trở thành một siêu cường quân sự toàn cầu, chứ không chỉ là một cường quốc “bình thường” nữa.

Khả năng Nhật Bản và Ukraine bắt tay để phát triển tên lửa tầm xa (đặc biệt là tầm bắn lớn từ 3.000 – 5.000 km) là một kịch bản vô cùng choáng váng cho bất cứ nhà phân tích quân sự hoặc các tướng lĩnh tham mưu cấp cao nào trên toàn thế giới. Ukraine từng là “trung tâm tên lửa” của Liên Xô cũ với tổ hợp Yuzhmash, nơi chế tạo ra những tên lửa liên lục địa (ICBM) khổng lồ như R-36 (SS-18 Satan). Họ có nền tảng lý thuyết và kỹ thuật về động cơ tên lửa nhiên liệu lỏng và rắn tầm xa mà ít quốc gia nào có được.

Quan trọng hơn, Ukraine có kinh nghiệm cải tiến các loại tên lửa cũ (như Neptune) thành vũ khí tầm xa tấn công đất liền và biết cách vượt qua các hệ thống phòng không hiện đại nhất của Nga. Nhật Bản sở hữu công nghệ vật liệu và điện tử chính xác… Công nghệ vật liệu trong kỹ thuật tên lửa, thì Nhật Bản sở hữu công nghệ vật liệu chịu nhiệt siêu việt (cực kỳ quan trọng cho tên lửa bay tốc độ cao), hệ thống dẫn đường vệ tinh và chip xử lý chính xác tuyệt đối. Hơn nữa họ có tiền và năng lực sản xuất khổng lồ, độ hiện đại bậc nhất thế giới. Đây là những điều Trung Quốc còn lâu mới đuổi theo được.

Xin để ý rằng, Nhật Bản không thích, chứ nếu họ làm máy bay chiến đấu, tốt không kém gì của Mỹ. Trong khi đó Trung Quốc còn vật vã với vật liệu làm động cơ phản lực, nhìn động cơ đểu của Nga còn rỏ nước dãi.

Nếu Nhật Bản và Ukraine liên kết, họ có thể tạo ra một dòng tên lửa mới dựa trên khung vỏ và động cơ đẩy của Ukraine, một số vật liệu quan trọng của Nhật, hệ thống tự động hóa và công nghệ tàng hình cũng của Nhật Bản. Nhật Bản bị ràng buộc bởi Hiến pháp hòa bình và các hiệp ước kiểm soát công nghệ tên lửa (MTCR). Tuy nhiên, họ có thể hợp tác dưới các danh nghĩa nghiên cứu khoa học hàng không vũ trụ như cùng phát triển tên lửa đẩy vệ tinh (như dòng Epsilon của Nhật). Một tên lửa đưa được vệ tinh lên quỹ đạo thì chỉ cần thay đổi thuật toán và đầu đạn là có thể bắn tới bất cứ đâu trên trái đất.

Dạng hợp tác quốc phòng “không chính thức” theo tôi hiện tại đã diễn ra ở một mức độ nào đó, trong tương lai càng có thể phát triển sâu rộng hơn : Nhật Bản có thể cung cấp linh kiện điện tử cao cấp cho Ukraine, đổi lại Ukraine chia sẻ toàn bộ dữ liệu thực chiến và thiết kế động cơ tên lửa tầm xa cho phía Nhật. Trong trường hợp xảy ra xung đột quân sự, chỉ cần một phiên họp của Quốc hội Nhật Bản là mọi hoạt động sẽ được hợp thức hóa. Xong !

Trước chiến tranh, Trung Quốc là đối tác thương mại số 1 của Ukraine. Nhưng khi Nga xâm lược, Trung Quốc đã chọn hỗ trợ Mục-tư-khoa về kinh tế và công nghệ lưỡng dụng. Người Ukraine sẽ không quên điều này. Việc Trung Quốc chọn đứng về phía Nga trong cuộc chiến Ukraine không chỉ là một lựa chọn ngoại giao, mà là một canh bạc địa chính trị có thể dẫn đến hậu quả “gậy ông đập lưng ông.” Nếu Ukraine thu hồi được Crimea và trở thành một đối tác quân sự thân thiết của Nhật Bản, bản đồ an ninh Á – Âu sẽ bị đảo lộn hoàn toàn theo hướng bất lợi cho Trung Quốc.

Nhật Bản là một trong những nước G7 hỗ trợ Ukraine mạnh mẽ nhất và không có “nợ máu” lịch sử với họ. Ukraine sẽ chọn bắt tay với Nhật để xây dựng một mạng lưới răn đe Trung Quốc từ cả hai phía : Nhật từ phía Đông (Viễn Đông) và Ukraine từ phía Tây (Crimea/Trung Á).

Crimea của Ukraine sẽ là “Hàng không mẫu hạm không thể đánh chìm” đe dọa Tân Cương của Trung Quốc. Khoảng cách từ bán đảo Crimea đến trung tâm khu tự trị Tân Cương (Trung Quốc) là khoảng 4.000 km. Các loại tên lửa hành trình hoặc tên lửa đạn đạo tầm trung (IRBM) thế hệ mới mà Ukraine có thể phát triển (với sự hỗ trợ công nghệ từ Nhật Bản) hoàn toàn có khả năng vươn tới khu vực này. Tân Cương không chỉ là vùng đất nhạy cảm về chính trị mà còn là nơi đặt các căn cứ phóng tên lửa hạt nhân (silo), các nhà máy năng lượng và là cửa ngõ của hành lang “Một vành đai, một con đường” đi về phía Tây. Nếu bị đe dọa từ hướng Crimea, Trung Quốc sẽ mất đi “vùng hậu phương an toàn” bấy lâu nay.

Nếu xảy ra xung đột quân sự, việc Ukraine chọn phe đứng về phía Nhật Bản là tất yếu.

2.2. Lãnh thổ phương Bắc

Ngày 20 tháng Năm năm 2014, trong bối cảnh Nga Putler vừa chiếm đoạt bất hợp pháp bán đảo Crimea của Ukraine được mấy tháng, tôi có viết bài đăng trên Tuần Việt Nam với tiêu đề ““Sang năm tới Hoàng Sa” – nhưng bằng cách nào ?”, bạn đọc có thể đọc lại ở đây.

Trong bài này, tôi có viết một ý, thế giới sau 1945 với “trật tự Yalta” làm cho các quốc gia đã bị mất lãnh thổ, gần như không có cách nào đòi lại được – tình trạng này cũng coi như là đúng với thời gian giữa hai cuộc Thế chiến. Muốn có sự dịch chuyển sở hữu – tài phán về lãnh thổ, chỉ có thông qua chiến tranh. Hồi đó khi viết bài báo, tôi đã nghĩ : Ukraine chỉ có thể chiếm lại Crimea nếu có một cuộc chiến tranh và Nga là nước bại trận, đây là một giả thuyết hết sức xa vời nhưng không ngờ sau hơn 10 năm, khả năng đó lại trở nên hiện hữu.

Và không ngờ cái ví dụ về quần đảo Kuril của Nhật Bản bị Nga chiếm, đến nay khả năng Nhật Bản đòi lại được lại trở nên hiện hữu đến như vậy. Nhưng, tôi cho rằng kịch bản Nhật Bản thu hồi 4 đảo (Habomai, Shikotan, Kunashiri và Etorofu) là hoàn toàn có khả thi, nhưng kèm theo những điều kiện khắt khe.

Thứ nhất : Thời cơ đến từ sự “đứt gãy” mối liên kết trung tâm – các khu vực ngoại biên. Nếu Nga tan rã hoặc suy yếu đến mức không thể trợ cấp ngân sách và duy trì sự hiện diện quân sự tại Viễn Đông, các đảo này sẽ rơi vào tình trạng “vô chủ” về mặt quản lý thực tế. Khi đó, Nhật Bản có thể dùng quyền lực mềm (viện trợ kinh tế, điện, thực phẩm) để khiến dân cư bản địa (vốn đang sống nghèo khổ) tự nguyện chấp nhận sự quản lý của Nhật.

Thứ hai : Chiến lược “mua lại” hoặc “thỏa thuận với thực thể mới”. Trong kịch bản Nga vỡ ra thành các quốc gia tự trị, “Cộng hòa Viễn Đông” mới có thể sẽ sẵn sàng trao trả các đảo để đổi lấy sự công nhận ngoại giao và các khoản đầu tư khổng lồ từ Nhật Bản nhằm thoát khỏi sự kiềm tỏa của Trung Quốc. Một chủ thể mới của công pháp quốc tế có thể được hình thành từ những mảnh vỡ của nước Nga cũ, ở khu vực viễn Đông. Những người cầm đầu nó hoàn toàn có khả năng trao trả Kuril cho Nhật Bản để đổi lấy quan hệ hữu hảo và sự bảo trợ, để làm đối trọng với Trung Quốc.

+ Rủi ro tiềm tàng lớn nhất là “Trung Quốc sẽ hành động như thế nào ?” Nếu Nga yếu, Trung Quốc sẽ không để Nhật Bản (đồng minh của Mỹ) dễ dàng mở rộng tầm ảnh hưởng ở phía Bắc. Trung Quốc có thể kích động các lực lượng dân tộc chủ nghĩa cực đoan tại Nga giữ đảo, hoặc chính họ sẽ đưa tàu công vụ ra khu vực này với lý do “bảo vệ ổn định khu vực.”

Khi đó, sự quyết đoán của Nhật Bản sẽ là yếu tố then chốt : Họ phải có kỹ thuật tốt và chuyên nghiệp. Nhật Bản hiện nay đã thay đổi hiến pháp để tăng cường sức mạnh quân sự. Nếu có biến cố ở Mục-tư-khoa, Nhật Bản sẽ hành động nhanh hơn nhiều so với thời điểm sau năm 1991 khi Liên Xô tan rã, Nhật đã bỏ lỡ cơ hội vì quá thận trọng.

Tạm kết luận. Nếu Nga suy yếu đến mức “đổ vỡ lớn” như chúng ta đang bàn, Nhật Bản có cơ hội lớn nhất kể từ năm 1945 để đòi lại lãnh thổ. Tuy nhiên, họ sẽ phải đối đầu trực diện với tham vọng của Trung Quốc tại vùng biển này.

 

3. Vấn đề đối đầu trực diện trục Nga – Trung của Nhật Bản

Vấn đề này xứng đáng được đặt vào một mục riêng. Nhật Bản dưới thời những người như bà Takaichi đang chuẩn bị cho “Kịch bản xấu nhất”. Họ không còn tin vào sự tử tế của các láng giềng hay sự bền vững vĩnh cửu của liên minh Mỹ – Nhật. Như chúng ta đang chứng kiến, người Nhật hoàn toàn không hề có ý định đứng ngoài cuộc chiến tranh xâm lược Ukraine của Putler, mà hỗ trợ nhiệt tình cho Ukraine.

Tính đến thời điểm tháng 12 năm 2024, tổng giá trị viện trợ của Nhật Bản cho Ukraine kể từ ngày 24 tháng 2 năm 2022 đã đạt hơn 12 tỉ USD, và vừa qua cùng với khoản vay 90 tỉ euro của châu Âu cho Ukraine, Nhật Bản hỗ trợ (viện trợ không hoàn lại) thêm 10 tỉ đô-la Mỹ nữa. Chuyện nước này có sự “hỗ trợ lịch sử” – chia sẻ dữ liệu vệ tinh iQPS mà tôi đã có bài phân tích, là một bước tiến chưa từng có, có thể nói sự thay đổi là về CHẤT trong nhãn quan quân sự quốc tế của Nhật Bản.

Như tôi đã viết, Nga suy yếu, thậm chí sụp đổ, là một chuyện hay cho Nhật Bản. Và với việc Nhật Bản mạnh lên về quân sự thực tế lại là một tin tốt cho các quốc gia đang có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc (như Việt Nam). Vì khi Nhật Bản giữ chân được Trung Quốc ở phía Bắc (Viễn Đông), Bắc Bình sẽ không thể dồn toàn lực xuống phía Nam (Biển Đông).

Trong những năm qua, Trung Quốc đã đầu tư rất mạnh vào vùng Viễn Đông của Nga với nhiều dự án lớn, rất nhiều dự án đầu tư cỡ trung bình và rất rất nhiều dự án nhỏ của các cỡ doanh nghiệp. Tuy nhiên có một thực trạng là người Trung Quốc dù đầu tư nhiều, tràn sang làm việc kiếm tiền đông đảo, nhưng không mặn mà với việc định cư tại đây. Tôi cho rằng do vấn đề hạ tầng chưa phát triển, Chính phủ Nga không có chính sách phát triển khu vực này một cách thỏa đáng và khí hậu thì khắc nghiệt. Vì vậy, người Trung Quốc kiếm tiền mang về xây dựng quê hương chứ không muốn tự biến mình thành người nhập cư. Nhưng việc Trung Quốc đang dần biến các địa phương này của Nga trở thành con nợ cũng là có thật.

Ở đây, chúng ta đã đụng đến một khác biệt cơ bản. Sau chiến tranh, Nhật Bản đã cố gắng xin lỗi Trung Quốc nhưng không được, và họ cũng làm như vậy với Việt Nam bằng vốn ODA, tôi tin rằng vốn đó đã giúp Việt Nam phát triển rất nhiều.

Nhật Bản đã cung cấp ODA cho Trung Quốc từ năm 1979 đến tận 2018 với số vốn tổng cộng khoảng 32 tỉ USD. Chính tài trợ này đã giúp xây dựng sân bay Phố Đông (Thượng Hải) và hệ thống đường sắt cao tốc đầu tiên của Trung Quốc. Nhưng Bắc Kinh luôn che giấu điều này với dân chúng để duy trì ngọn lửa thù hằn dân tộc nhằm phục vụ mục đích chính trị nội bộ. Nhật Bản đầu tư vào hạ tầng Việt Nam (cầu Nhật Tân, hầm Hải Vân, sân bay Nội Bài...) với tầm nhìn hàng chục năm. Họ muốn biến Việt Nam thành một mắt xích trong chuỗi cung ứng của họ. Khi địa phương phát triển, hàng hóa Nhật lại có thị trường để bán, đó là tư duy ‘cộng sinh’ – và nó cũng diễn ra tương tự với Hàn Quốc.

Tôi không đồng ý với câu “quan hệ Nhật Bản – Hàn Quốc vốn luôn cơm chẳng lành canh chẳng ngọt” mà nhiều người hay nói cho lắm. Quan hệ Nhật Bản – Hàn Quốc giống quan hệ Nhật Bản – Việt Nam (tất nhiên là không bằng, thua xa), nhưng ít nhất không xấu như Nhật Bản – Trung Quốc. Nhật Bản vướng với Hàn Quốc về chuyện những phụ nữ Triều Tiên bị bắt làm nô lệ tình dục cho lính Thiên Hoàng trong Chiến tranh Thế giới lần thứ hai, nhưng theo tôi họ cũng đã giải quyết song phương được kha khá rồi. Về kinh tế, quan hệ của hai nước này theo tôi chưa đến mức đồng minh, nhưng là rất tốt. Về quân sự, mặc dù ở thời Trump ít quan tâm, nhưng vẫn nằm trong chiến lược chung của cụm phòng thủ Đông Bắc Á với Hoa Kỳ.

Xét mức độ thù hằn đối với người Nhật Bản của dân ba nước Việt Nam, Hàn Quốc và Trung Quốc là hoàn toàn khác nhau, dù mức độ tàn ác của quân phiệt Nhật trước đây với dân chúng ba nước này không khác nhau. Theo tôi nhìn nhận, ODA giống như kế hoạch Marshall của Mỹ với châu Âu, tiếc là những nước như Việt Nam không sử dụng nó tốt như châu Âu. Điểm khác biệt ở đây là người Trung Quốc, Ngay cả khi họ đầu tư vào Việt Nam chẳng hạn, cũng theo kiểu vắt chanh bỏ vỏ, chứ không phải là kinh doanh lâu dài đi kèm với sự phát triển của địa phương.

Nhìn chung, thái độ của Viễn Đông Nga trong kịch bản sụp đổ đối với Nhật Bản và Trung Quốc chắc chắn sẽ khác biệt cơ bản. Trung Quốc đầu tư vào Viễn Đông chủ yếu để giải quyết cơn khát nguyên liệu thô (gỗ, quặng, khí đốt) và tạo đầu ra cho lượng công nhân dư thừa trong nước. Họ không có ý định xây dựng một cộng đồng thịnh vượng tại đó vì một Viễn Đông giàu mạnh và tự chủ sẽ trở nên khó bảo. Cách Trung Quốc đầu tư thường đi kèm với việc đưa toàn bộ dây chuyền, công nhân và vật liệu từ chính quốc sang. Khi dự án xong, họ rút đi, để lại một địa phương với những khoản nợ và hạ tầng xuống cấp nhanh chóng do không được chuyển giao công nghệ. Điều này trái ngược hoàn toàn với cách Nhật Bản đào tạo nhân lực địa phương.

Vấn đề của chúng ta hôm nay là: nếu kịch bản sụp đổ nước Nga xảy ra, những vùng xa xôi này có thể li khai, vậy những nước có quan hệ gần gũi như Nhật Bản, Hàn Quốc... có thể có những động thái, hoặc chiến lược gì ? Chắc chắn khu vực này sẽ biến thành vùng tranh giành ảnh hưởng của các nước máu mặt. Tôi thì có một niềm suy tư và tiếc rẻ đầu tiên, là Trump quá ngờ nghệch với địa chính trị, nên Hoa Kỳ dưới thời ông ta sẽ không có chính sách hỗ trợ Nhật Bản và Hàn Quốc thỏa đáng trong ván bài địa chính trị này.

Vì vậy, có một khả năng rất lớn xảy ra trong ván cờ Viễn Đông Nga, là cặp bài trùng Nhật – Hàn sẽ cố gắng tận dụng “tâm lý bài Tàu” của Viễn Đông. Dù người Trung Quốc hiện diện đông đảo ở Nga, nhưng thực tế dân Nga tại Viễn Đông cực kỳ bài xích và lo sợ Trung Quốc. Đây chính là “khe cửa hẹp” để Nhật Bản và Hàn Quốc chen chân vào Viễn Đông nếu kịch bản đổ vỡ xảy ra.

Hiện thực cuộc sống cho thấy, người dân vùng Viễn Đông Nga vốn đã rất quen thuộc và ưa chuộng đồ gia dụng, thực phẩm và văn hóa Hàn Quốc hơn là hàng hóa kém chất lượng từ biên giới Trung Quốc, riêng về ô tô thì cực kỳ ưa chuộng “xe Nhật bãi tay lái bên phải” – đây là dạng gây ảnh hưởng “làn sóng mềm”. Nhưng có một yếu tố quan trọng hơn là sự tin cậy, nếu một nước cộng hòa ở Viễn Đông li khai, họ sẽ nhìn vào mô hình của Nhật Bản như một tấm gương về sự hiện đại hóa mà không mất đi bản sắc, thay vì nhìn vào mô hình kiểm soát xã hội của Trung Quốc.

Thực tế, vấn đề đối đầu trục Nga – Trung của cặp Nhật Bản – Hàn Quốc như vậy đã thầm lặng diễn ra từ lâu, từ 24/2/2022 nó trở nên rõ ràng hơn và hiện tại, khi Nga Putler suy yếu đáng kể, đang đứng trước bờ vực của sự sụp đổ, những toan tính ngấm ngầm lại càng trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết.

4. Nhận xét và kết luận

Không phải tinh vi gì, nhưng phải nói rằng triết lý của tôi về mối liên hệ giữa “dịch chuyển chủ quyền địa lý” và “kết cục chiến tranh” không chỉ là một quan sát lịch sử mà còn là một quy luật chính trị thực dụng. Bài viết năm 2014 của tôi trên Tuần Việt Nam (VietNamNet) đã thể hiện một tầm nhìn xa, bởi thực tế lịch sử cho thấy các đường biên giới ít khi được vẽ lại bằng mực trên bàn đàm phán mà thường được vẽ bằng máu trên chiến trường. Liên Xô có được Kuril là nhờ vị thế kẻ thắng trận năm 1945.

Suốt 80 năm qua, Nhật Bản chỉ có thể “đàm phán” trong vô vọng, nhưng khi Nga Putler bước vào cuộc chiến Ukraine và đối mặt với thất bại năm 2026, nước này chắc chắn sẽ mất khả năng răn đe quân sự. Hạm hạm đội Thái Bình Dương bị rút ruột lực lượng và Mục-tư-khoa rơi vào hỗn loạn đảo chính, Nga sẽ không còn đủ sức mạnh vật lý để giữ những hòn đảo xa xôi. Bà Takaichi khi nhậm chức đã tuyên bố coi đây là “mối đe dọa sống còn” và cam kết giải quyết vấn đề lãnh thổ phương Bắc. Nhật Bản không còn đợi Nga “tự nguyện trả”, mà đang chuẩn bị tư thế để “thu hồi” khi Nga suy yếu nhất.

Tôi phải nói rằng Zelenskyy đã đi một nước cờ cao ngất trời mây. Vào tháng 10/2022, Ukraine đã chính thức công nhận quần đảo Kuril thuộc về Nhật Bản và đây không phải là một tuyên bố suông. Zelenskyy của Ukraine đang thiết lập một tiền lệ pháp lý và chính trị mới. Trong kịch bản 2026, khi Ukraine chiến thắng, họ sẽ cùng với Nhật Bản tạo thành một gọng kìm : Ukraine đòi lại Crimea, Nhật Bản đòi lại Kuril. Cả hai thực thể này đều sụp đổ khỏi tay Nga như một hệ quả tất yếu của sự tan rã đế chế.

Nếu năm 2026 là năm “đại biến” của Nga, nó cũng sẽ tạo ra một tiền lệ cực kỳ nguy hiểm cho Trung Quốc. Nếu họ sa lầy hoặc suy yếu, những thực thể địa lý họ đang chiếm đóng trái phép cũng sẽ dịch chuyển theo quy luật chiến tranh. Chiến tranh Nga – Ukraine kết thúc sẽ là lúc bản đồ thế giới được vẽ lại, mà thực tế hiện nay nó đang được vẽ lại, Venezuela đang trong vòng ảnh hưởng của trục Nga – Trung có thể sẽ rơi vào tay Mỹ. Thực tế, Nhật Bản đang thực hiện một chiến lược “gọng kìm” cho trật tự thế giới hậu chiến : Vừa cứng rắn quân sự để ngăn chặn Trung Quốc tại Đài Loan, vừa chuẩn bị tư thế để lấp đầy khoảng trống quyền lực tại Viễn Đông nếu Nga sụp đổ.

+ Với Đài Loan, nếu như trước đây Nhật Bản thường dùng những từ ngữ ngoại giao mơ hồ, thì vào ngày 7/11/2025 vừa qua, bà Takaichi đã tạo ra một “địa chấn” chính trị khi tuyên bố trước Quốc hội : “Một cuộc tấn công của Trung Quốc vào Đài Loan có thể cấu thành ‘tình huống đe dọa sự sinh tồn’ của Nhật Bản.” Đây là ngôn ngữ pháp lý cho phép Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản can thiệp quân sự. Động thái này trực tiếp biến Nhật Bản từ một hậu phương thành một bên tham chiến tiềm tàng để bảo vệ chuỗi đảo thứ nhất. Phản ứng của Trung Quốc (cấm nhập khẩu hải sản, hạn chế du lịch) cho thấy họ thực sự coi bà Takaichi là đối thủ nguy hiểm nhất từ trước đến nay. Đánh giá theo góc nhìn của nhà văn Kim Dung, cú đòn này là “thực chiêu” của nữ hiệp Takaichi.

+ Với Viễn Đông, Nhật Bản tiếp tục kiên nhẫn chò Nga sụp đổ. Tôi đã nhận định rằng Nga đã “rút rỗng” nguồn lực quân sự Viễn Đông cho chiến trường Ukraine, Nhật Bản của Takaichi hiểu rằng kẻ thù thực sự ở phía Đông không còn là Nga (vốn đã suy kiệt), mà là việc Trung Quốc sẽ “nuốt trọn” vùng này. Động thái thông qua dự thảo ngân sách 2026 đạt mức kỷ lục 122,3 nghìn tỷ yên và Nhật Bản đang chạy đua để đạt mức 2% GDP sớm hơn dự kiến nhằm đối trọng với hải quân Trung Quốc, cho thấy chắc chắn họ sẽ tận dụng sự sụp đổ của Putler, khi Nga thất bại tại Ukraine vào năm 2026 như dự đoán, Nhật Bản sẽ dùng sức mạnh quân sự mới này để ngăn Trung Quốc biến biển Okhotsk thành “ao nhà,” đồng thời gây áp lực đòi lại Kuril. Theo Kim Dung, đây là “hư chiêu” của Takaichi.

+ Với Trung Quốc, bà Takaichi vẫn gặp ông Tập Cận Bình bên lề APEC (tháng 10/2025) và duy trì đối thoại tại G20, đây là cách tiếp cận “ngoại giao thực dụng”, theo Kim Dung chị Takaichi vẫn ra chiêu hoãn binh, đúng như người Nhật vẫn làm : Chờ đợi trong vận động, chờ đợi để kẻ địch suy yếu thêm trong khi mình vẫn âm thầm mạnh lên.

Sau chiến tranh, cùng với việc Nga tan rã và các hành động có thể có của Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc… thì ý tưởng về một Hiệp ước Phòng thủ chung Ukraine – Nhật Bản vào năm 2026 không chỉ là một kịch bản giả tưởng, mà nó dựa trên một nền tảng thực tế đang được bồi đắp rất nhanh chóng. Nếu hiệp ước này thành hiện thực, Trung Quốc sẽ đối mặt với một liên minh phi truyền thống nhưng cực kỳ đáng sợ. Ukraine là một quốc gia có quân đội dày dạn kinh nghiệm chiến trường nhất thế giới, làm chủ công nghệ drone và tác chiến điện tử, đã đánh bại một “đại cường” như Nga ; liên minh với Nhật Bản – một cường quốc công nghệ và tài chính, sở hữu hải quân và không quân hiện đại hàng đầu thế giới, đang trong quá trình tái vũ trang mạnh mẽ dưới thời bà Takaichi.

Trung Quốc sẽ rơi vào tình thế “tiến thoái lưỡng nan” vì sẽ phải chịu một áp lực hai đầu. Nếu Trung Quốc muốn “nuốt” Viễn Đông, họ sẽ không chỉ phải đối đầu với Nhật Bản, mà còn phải lo ngại các đòn đánh bất đối xứng (như drone hay tấn công mạng) từ phía Ukraine – một quốc gia không có biên giới trực tiếp với Trung Quốc nhưng có khả năng phóng chiếu sức mạnh tầm xa và kinh nghiệm phá hủy hạ tầng hậu cần của đối phương.

Một hiệp ước như vậy sẽ chính thức tuyên bố rằng Nga đã bị loại ra khỏi ván cờ Á – Âu, Trung Quốc sẽ bị cô lập hoàn toàn về mặt chiến lược ở phía Bắc, và sẽ hết sức bận rộn với những thực thể mới của nước Nga tan rã. Sự sụp đổ của “trục Nga – Trung” là tất yếu và tôi chưa nhìn thấy cơ hội gì hay ho cho Trung Quốc trong kịch bản này.

Vậy đó, với Tập Cận Bình, mâm cỗ có thể ngon nhưng chưa chắc đã ăn được mà sẽ có những kẻ “phá mâm” đang ngồi xung quanh, nghiến răng ken két…

PHÚC LAI 11.01.2026

 

Aucun commentaire:

Enregistrer un commentaire

Remarque : Seul un membre de ce blog est autorisé à enregistrer un commentaire.