Chị Thân là con dâu ông bà Chiu ở làng Hạ Lội. Anh Quý đi bộ đội năm 1962. Trong một lần về phép, bà mối dẫn anh đến nhà xem mặt chị Thân, sau đó anh Quý đến chơi nhà chị hai lần.
Anh Quý đi rồi, xong vụ mùa, cha mẹ anh mang cơi trầu đến thưa chuyện cha mẹ chị Thân, xin cưới. "Cưới đi, khỏi để lâu" - Mẹ chị Thân giục con gái. Nhưng anh Quý chưa về. "Cưới rồi ít bữa anh Quý về" - Mẹ bảo vậy thì chị Thân nghe. Chị đã 22 tuổi.
Đám cưới diễn ra không có chú rể. Gọi là cưới vắng mặt. Gia đình nhà trai làm dăm mâm cỗ, nhà gái đưa dâu đến, mẹ chồng ra ngoài ngõ đón, cởi nón cho con dâu, dắt con vào buồng cưới.
Hai tháng sau đám cưới, anh Quý về. Anh được về nhà 5 ngày trước khi vô Nam. Nghe nói vô Nam là nghĩ đến chuyện chết, chị Thân run. Đêm trước khi đi, anh Quý giang tay cho vợ kê đầu, dặn "Em ở nhà nghe lời cha mẹ, nhường nhịn các em". Chị Thân khóc, anh vỗ về: "Em đừng khóc, anh đi hết nhiệm vụ anh về". Chị Thân khóc to hơn.
Anh Quý là con trai cả, con của người vợ đầu ông Chiu, bà mất đã lâu. Chị Thân về làm dâu nhà anh, trở thành người chị của 8 đứa em.
Từ khi chị về, mẹ chồng chị (người vợ thứ hai của ông Chiu) sinh thêm hai đứa con. Hai lần mẹ sinh em, chị đi cùng mẹ ra trạm xá, em lọt lòng mẹ là nằm trong vòng tay chị. Chị chăm bẵm đứa trẻ sơ sinh như người mẹ chăm con. Các em lớn lên, quấn quýt bên chị.
Có chồng vô Nam, xã ưu tiên cho chị Thân làm trong Ban Chính sách. Làm Ban Chính sách xã, chị Thân có nhiệm vụ đến nhà an ủi cha mẹ già có con đi bộ đội, chia sẻ tâm tình để những người vợ yên tâm chờ chồng.
Anh Quý đi đã 4 năm. Bốn năm, chị nhận được 2 lá thư anh gửi trên đường vô Nam. Thư ngắn gọn mấy điều dặn dò.
"Không biết khi mô anh Quý về" - Nghe tiếng con dâu thở dài, mẹ chồng chị gạt đi: "Con đừng có nhắc lắm".
Anh Quý đi 5 năm rồi. Không biết khi mô anh Quý về.
Không biết khi mô anh Quý về để có con.
Chẳng có kỷ niệm mà hồi tưởng. Chị nhớ anh Quý là nhớ mông lung, mường tượng dáng hình. Nhớ dáng anh cao lớn, khuôn mặt anh sáng, lưng anh thẳng, bước chân vững chãi.
Chẳng có kỷ niệm nào mà chị cứ nhớ. Chị nhắc thầm tên anh, nghĩ đến anh, không tưởng tượng được giờ anh đang ở chỗ nào, đang làm gì.
Trời gần sáng, chị trở dậy, ra sân, vác cày lên vai dắt trâu ra đồng. Nước mắt tủi thân rớt xuống má. Nếu chồng ở nhà, chị không phải đi cày. Chị Thân không biết cày. Chị khổ sở bám vào tay cày đi theo sau con trâu, đường cày nông sâu chệch choạc.
Người đi trên bờ nhìn chị cày ruộng trêu chọc làm chị xấu hổ. Hôm đó chị cày được nửa thửa ruộng, tháo ách cho trâu nghỉ.
Bất giác, chị nhìn lên đường làng. Một anh bộ đội đi trên đường làng. Anh đang đi về phía nhà chị. Chị nhìn theo. "Phải anh Quý không, có phải là anh Quý về đấy không?". Chị thả cày giữa ruộng, bì bõm lội lên bờ, chạy lên đường, đuổi theo anh bộ đội.
Không phải anh Quý.
Chị vẫn đi theo: "Chú ở đâu về, chú có biết ai ở làng này không, chú có biết anh Quý không?".
Chiến trường rộng lắm, chú bộ đội không biết ai ở làng này, không biết anh Quý của chị.
Chị bước xuống ruộng, hai đầu gối run lên, chị ngồi gục xuống trên bò, khóc nức nở. Nỗi buồn tủi dâng ngập đầu óc. Vác cày trên vai đi về nhà. Chị kéo sụp nón xuống để không ai nhìn thấy chị khóc sưng mắt.
"Buồn chi mà buồn, đi bộ đội khi mô hết nghĩa vụ thì về" - Các chị trong Ủy ban nói át đi, mỗi khi nghe chị nhắc đến anh Quý.
Anh Quý đi đã 7 năm rồi. Không biết khi mô anh Quý về. Không biết khi mô anh Quý về để có con... - Nghĩ đến là nước mắt.
Năm 1970. Khi giấy báo tử đến nhà, chị Thân không còn tí sức nào trong người nữa. Chị nằm liền ba ngày.
"Giờ con tính răng?" - Cha mẹ chồng hỏi khi thấy chị dậy, đi ra khỏi giường.
"Con ở đây, không đi mô nữa!". Vườn rộng, chị xin cha mẹ chồng dựng cho chị một mái nhà tranh vách nứa ở riêng.
"Không được, con coi có ai thương yêu thì lấy, già trẻ chi cũng được, lấy kiếm đứa con mà dựa".
"Con không lấy ai nữa. Con ở đây với cha mẹ với các em, con không đi đâu nữa!".
"Các em rồi lớn cả, đứa mô rồi cũng lập gia đình lo cho gia đình của nó. Em đông nhưng không lo được cho con mô. Cha mẹ rồi cũng chết. Con lấy ai gần đây cho gần cha mẹ với các em, không thì con về bên nhà cha mẹ con".
Chị Thân lội rào về nhà cha mẹ đẻ. Mẹ nấu cơm cho con ăn rồi giục con về, không được ngủ lại: "Cha mẹ gả con cho người ta rồi, chồng con hy sinh thì còn gia đình chồng!"
Chị Thân lội rào về nhà cha mẹ chồng: "Xin cha mẹ cho con ở lại làm con gái nuôi, con ở đây nuôi cha mẹ đến già!".
Chị tưởng tượng là anh Quý chỉ bị thương, anh không chết. Chập choạng, ra đóng cửa chuồng gà, thấy con chim lạ đậu trên nóc chuồng gà. Chị nghĩ đó là hồn anh Quý nhập vào con chim báo tin.
Đêm đó chị mơ thấy anh Quý. Anh dặn: "Em ở đây đừng đi mô nữa!".
***
Sau chiến tranh đã 2 năm rồi. Chị Thân chờ chồng đã 13 năm.
Giá mà chị có được một đứa con như chị Hồng. Chồng chị Hồng hy sinh chị vẫn còn có đứa con.
Một người đồng đội của anh Quý về thăm nhà, cho biết anh Quý hy sinh năm 1968 ở Tây Ninh. Bảy người đi lấy gạo ở bên Miên mãi không thấy về, đơn vị cho anh em đi tìm, thấy 7 xác chết trong rừng, nhận ra xác anh Quý nhờ cái đài đeo bên người.
Chị Thân thương anh đi rồi chết, chết khổ, không được như mình.
Cha mẹ chồng không đồng ý cất cho chị Thân một mái nhà ở riêng. Chị về nhà cha mẹ đẻ. Hai năm sau, chị lấy một ông mới mất vợ, có 4 đứa con gái nhỏ.
Không biết anh Quý mất vào ngày nào, gia đình lấy ngày báo tử làm ngày giỗ anh. Ngày giỗ anh Quý, chị về thắp hương, chị khóc từ ngoài ngõ khóc vào: "Ai cũng bắt tui lấy chồng để giờ tui khổ!" Mấy cô em gái thấy chị khóc cũng khóc theo.
Chị Thân sinh được đứa con trai. Con trai vừa 6 tháng thì chồng ngã gãy xương sống khi đi lợp nhà cho người ta, nằm một chỗ suốt 25 năm. Chị làm lụng nuôi đàn con và chăm sóc chồng.
Mười hai giờ trưa nắng chị đang ngoài cánh đồng. Sấm sét bão bùng chị vẫn ở ngoài đồng. Lúc nào chị cũng buồn...
Nước mắt ròng ròng. Nước mắt trào suốt giang san.
* Sách "Những ngày tháng năm", Sơn Khê; 2025.
* Hình: Sài Gòn, 30.4.1975.
MAI
THANH HẢI 29.04.2026

Aucun commentaire:
Enregistrer un commentaire
Remarque : Seul un membre de ce blog est autorisé à enregistrer un commentaire.