... "Chiều đầu đông năm ấy -1971, đơn vị bác sau hai ngày hành quân từ Thạch Bình, Nho Quan tập kết tại chân núi Cánh Diều, thị xã Ninh Bình. Năm giờ chiều, đoàn tàu quân sự từ phía Hà Nội tiến vào khu ga để đón đoàn quân.
Hai bên thành tàu là hàng băng rôn "Nhiệt liệt chào mừng những người con ưu tú của miền Bắc xã hội chủ nghĩa lên đường vào giải phóng miền Nam", "Tất cả vì miền Nam ruột thịt"...Cả khu ga là một không khí sục sôi. Đoàn tàu hú một hồi còi dài và chuyển bánh hướng vào Nam.
Bác ngoái đầu qua cửa sổ. Chào quê hương, chào miền Bắc xã hội chủ nghĩa thân yêu"...
.***
"Đứng thế này mỏi chân, không nói chuyện được lâu bác ạ!". "Bác không ngồi được" - Bác nói và kéo quần lên cho tôi xem. Vết thương dài ở bên đùi.
Năm mươi năm qua người đàn ông ấy đã không thể ngồi.
"Thời này ai người ta nghe chuyện ngày xưa. Cháu muốn nghe thì bác kể cho vui chứ viết làm gì. Viết rồi người ta lại bảo mấy ông già giờ chẳng làm được gì nữa ngồi nói láo, kể công".
***
"8... 6... 5... 4. Tôi chỉ cách thằng địch 4 mét. Mở khóa an toàn. Súng AK. Bóp cò. Bốn thằng trúng ngực. Máu phun thẳng vào mắt tôi. Một thằng chưa trúng đạn la lên oai oái. Tôi rút quả lựu đạn US đeo bên người ném ngay vào gốc cây có thằng thông tin đang gói pháo. Lựu đạn nổ, nó vẫn chưa chết. Nó đang giãy giụa.
Tôi chạy hướng này bắn 2 loạt, chạy hướng khác bắn 2 loạt.
Năm phút sau địch bủa vây tôi. Cùng lúc ngoài chốt anh em xuất hiện. B40 bắn. Quân ta xả súng tới tấp vào địch. Địch nổ súng dữ dội đáp trả.
Một quả lựu đạn rơi vào mặt người anh chỉ huy vừa vào chi viện cho tôi. Tôi thấy anh từ từ gục xuống. Tôi lao vào anh. Hai tay tôi ôm lấy bàn tay anh đang cầm lựu đạn mỏ vịt đã rút chốt an toàn ném theo hướng địch bỏ chạy.
Xuất hiện thêm người của trung đội ứng cứu. Tiếp tục nổ súng truy đuổi. 25 xác địch bỏ lại.
Súng tôi bắn đỏ nòng. Có lúc bóp cò chỉ thấy nòng súng rung mà tôi tưởng súng mình bị lỗi. Nhìn thấy xác địch ngã xuống biết ngón tay bóp cò làm việc. Không biết bao nhiều tên địch đã chết trong loạt đạn đó. Tối về nghe đài địch thông tin là 18 tên.
Sau mỗi trận đánh thắng, tôi lại được thêm một giấy khen nhận thêm một bằng khen"...
Hôm nay kể lại chuyện này có thể cháu thấy ghê tởm. Nhìn nhận thế nào là quyền của các cháu.
Trận này quân ta đã tiêu diệt được bao nhiêu tên địch? Trận này quân ta đã làm tiêu hao sinh lực địch.
Người ta hỏi như vậy và nói như vậy. Không ai hỏi trận này ta giết được bao nhiêu người.
Ở đây chỉ có số quân. Ở đây chỉ có ta và địch".
***
...Tổ trinh sát trườn vào. Một người giẫm phải mìn. Lệnh trên đưa xuống: Khẩn trương lấy xác ra. Bốn người quay vào mang theo tăng. Địch đã cài sẵn 4 quả lựu đạn. Lật xác ra. Một người chết kéo theo 4 đồng đội chết cùng.
Tổ trinh sát trườn vào. Một người vướng phải mìn. Lệnh trên: Làm gì thì làm, phải lấy liệt sĩ ra bằng được. Rút kinh nghiệm lần trước, phải từng bước thận trọng.
Một ngày không lấy được. Ngày thứ hai, ngày thứ ba đến ngày thứ bảy vẫn chưa lấy ra được. Ngày thứ tám, một người vào trước mang theo dây, tròng vào cổ liệt sĩ ra hiệu anh em đứng ngoài kéo. Kéo chừng mấy mét thì nhẹ hẫng. Thôi rồi đầu đã bị đứt. Người ở trong trườn ra. Bây giờ ta phải mang tăng vào cuốn.
***
Hành quân đến một địa điểm mới. Đêm khuya múc nước từ hố bom lên uống rồi mang về nấu cơm. Sáng mai ra nhìn thấy trong hố nước đó những mảng tóc, những phần thịt tan rữa lùng bùng.
Một ngày bình yên là khu rừng thưa tiếng bom. Nghe im tiếng bom là diều hâu bay tới. Bụng xác chết trương phình. Các cúc áo sắp bật. Diều hâu sà xuống. Bục. Nước phọt ra. Những con vật say sưa...
Trong hầm thấp, chúng tôi nằm bên 5 cái xác. Đã hai đêm rồi, bộ phận vận tải vẫn chưa lên. Sợ anh em bị ném pháo không còn nguyên vẹn, chúng tôi khiêng vào hầm nằm bên nhau cho đỡ tội nghiệp. Đêm khuya hai mí mắt trĩu nặng mà không sao ngủ được. Tuân nói với tôi: "Anh ơi sau này hòa bình, anh em mình được ăn vàng cũng không xứng đáng!".
Tuân chẳng đợi được đến hòa bình, để biết ăn vàng có xứng đáng hay không.
"Tôi nghĩ gì khi nhặt xác anh em?" - Tôi không nghĩ gì.
Không kịp nghĩ gì. Nhặt kỹ không để sót. Nhặt nhanh mà thoát khỏi trận địa. Máy bay có thể quật lại ném bom lần nữa. Không có mùi máu. Chỉ có mùi khét của bom.
Tôi nghĩ gì khi cõng liệt sĩ trên lưng? Tôi không nghĩ gì.
Tôi sợ giẫm phải mảnh bom. Không có cảm giác người trên lưng đã chết. Mới đây thôi chúng tôi còn trò chuyện".
***
Một năm cách đây có người gọi điện cho tôi. Tôi không nhận ra anh là ai. Người đó nhắc lại một kỷ niệm. Anh đi tải đạn bị thương, tôi đã băng bó cho anh, cõng anh qua hai con suối. Tôi bé nhỏ, anh cao lớn. Ba tháng sau anh đi bộ 30 cây số đến đơn vị tìm thăm tôi.
Về Bắc anh đến nhà, bố tôi trả lời: "Con gái tôi đánh hết giặc nó mới về". Vậy mà tôi chẳng còn nhớ gì. Một mảnh bom đã găm vào chỗ đó. Tôi tưởng sẽ giấu biệt đi được. Tôi không biết hậu quả nó về sau. Tôi đã lấy chồng và chúng tôi không thể sống với nhau được lâu dài.
Tiếng ai đó gọi tôi trong đoàn hành quân. Tôi đang chặt tranh bên đường. Tôi ngước lên nhìn. Anh Đạo của tôi.
Anh đã ra Hà Nội học tráng phim 3 năm trước, sao bây giờ anh có mặt ở đây. Tôi hớt hải đi theo. Theo được 1 cây số, thủ trưởng anh bảo tôi không được đi nữa.
Gần khuya anh về nhà. Đơn vị dừng chân ở làng bên.
"Con học xong chưa xin được việc làm. Con phải đi chiến trường" - Anh nói với mẹ. Anh đi đâu tôi bước theo anh tới đó. Anh đi sang những nhà hàng xóm. Chào hỏi mỗi nhà vài ba câu.
Bốn giờ sáng mẹ thức hai anh em dậy ăn cơm. Anh xới ra hai bát. Mẹ và em ăn đi, con có tiêu chuẩn cơm ở đơn vị.
Tôi lại chạy theo anh băng qua cánh đồng về đơn vị tập trung.
Những người bạn của anh đang bò trước sân. Chân họ sưng phù. Có người vừa bò vừa khóc. Anh đưa cho tôi một lá thư trong đó có bức ảnh cô gái đội mũ thanh niên xung phong. "Em gửi lá thư và bức ảnh giúp anh theo địa chỉ này" - Tôi nhớ hòm thư có ký hiệu B18, đoàn 553. Tôi cũng viết cho chị một lá thư kèm theo.
Đó là kỷ niệm cuối cùng của tôi về anh. Mẹ tôi đêm xuống là ngồi khóc. Những trận ốm kéo dài. Con còn sống hay đã chết. Nếu con chết rồi thì báo mẹ một câu.
Mười năm sau ngày anh đi, người ta đến nhà đưa giấy báo tử. Một buổi đi làm đồng về tôi thấy mẹ đã nằm im ngưng thở. Tôi ngồi bên mẹ gọi tên anh. Anh là sức mạnh của chúng tôi.
Tôi không thể tìm được anh nữa. Tôi đi tìm người con gái anh đã nhờ tôi gửi thư. Năm 1999 tôi ra Hà Nội hỏi những người quen. Chỉ biết cô gái đó có cha làm nghề cắt tóc và mẹ bán thịt lợn. Không ai biết giờ họ ở đâu.
Tôi muốn gặp để hỏi chị có giữ bức ảnh nào của anh không. Tôi giờ già yếu quá rồi bước đi không vững. Tôi vẫn muốn ra Hà Nội tìm cho được chị. Tôi muốn được nhìn thấy anh trai tôi lần nữa".
***
"Tôi không hiểu vì sao luôn chảy nước mắt khi nghĩ tới bác. Bác mất khi tôi chưa ra đời. Và tôi cũng ít nghe về bác. Nhưng nhắc đến, nghĩ đến bác tôi lại xót xa.
Bác không còn, nhưng vẫn ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống của bà ngoại, của những người chị em gái trong nhà, làm thay đổi lựa chọn hôn nhân của họ, làm bà ngoại phải có cách cư xử khác để chống chọi với cộng đồng.
Vì bác là con trai duy nhất.
Bác hy sinh. Nhưng với gia đình tôi, với bà ngoại, là nhà không còn con trai nữa. Nhà không còn con trai nữa coi như tách khỏi các hoạt động của họ hàng. Ở làng quê Bắc Bộ đó là một vấn đề"
***
Trên người tôi không có vết thương. Tôi không bị trúng đạn lần nào. Khám lần cuối cùng trước khi xuất ngũ sức khỏe tôi bình thường. Về quê vài năm sau tôi yếu dần.
Bốn mươi ba tuổi, tôi không cầm cày được nữa, không kéo xe được nữa. Lao động chính trong gia đình dồn lên vai vợ. Cô ấy mệt quá. Cô ấy nói "12 năm, lẽ ra anh phải có lương".
Tôi học được gì trong chiến tranh?.
Tôi học được sự cam chịu. Tôi học được cách nhìn, chuyện gì rồi cũng qua. Và mọi chuyện cũng qua. Vợ tôi kiệt sức không còn kêu than được nữa, các con tôi lần lượt có việc làm.
Tôi chết được rồi.
***
Hai vợ chồng từ chiến trường về. Con gái chào đời được 7 ngày thì nước lũ dâng cao. Mẹ con bà cháu được cứu hộ đưa đến nhà bà ngoại. Chú ở lại canh lũ.
Hai tuần chú nằm trên cây nhãn. Anh trai chèo thuyền mang tới ít bột nén thành viên ăn cầm hơi qua ngày. Đêm nước dâng lên chạm vào bụng. Ngôi nhà bị trôi. Còn lại bộ quần áo trên người.
Sau lụt xã xét duyệt tình trạng ngập lụt. Gia đình chú xếp vào hạng nặng nhất. Tiêu chuẩn được hưởng là mỗi người 60 kg gạo - gia đình chú bốn người, 1 bộ quần áo, 1 cái chăn, 1 cái màn, 1 bộ nồi.
Ba tháng sau gia đình chú được nhận: 60 kg mì hạt, 1 quần xanh chéo Nam Định, 1 cái nồi, 1 cái chiếu 1m6, 3 kg sữa bột. 3 kg sữa bột quá hạn chú pha một cốc uống bị đau bụng tiêu chảy phải đổ đi.
Chú làm một cái nhà tạm. Bốn tháng sau nhà bị cháy.
Ngày ở trại thương binh trở về chú đã mang giấy tờ nộp cho xã. Chú được tiêu chuẩn nhận 90 kg gạo ăn trong 6 tháng. Thực tế chỉ được 15 kg gạo tấm, sắn tươi và mì hạt.
Vợ sinh con, đói quá, chú đến xin cấp thêm nhưng xã không cho. Câu trả lời lần nào cũng là "chúng tôi còn phải cân đối". Chú làm căng, họ lại bảo "chú lấy tư cách gì mà đòi cấp thêm, quyết định đâu".
Trong mắt họ chú bấy giờ là thằng khùng.
Những sự việc như vậy cứ liên tục diễn ra. Chú bức xúc. Đêm không ngủ, cứ chằm chằm nhìn vào hư không. Cuộc sống sao mà buồn quá. Thấy mình lạc lõng, bơ vơ.
Chú đưa cả gia đình bỏ quê ra đi. Muốn tìm cuộc sống tốt hơn cho con cái sau này ở vùng đất mới. Muốn tránh hết những nhiễu nhương nhân tình thế thái.
Nhưng ra Bắc hay vào Nam, số phận của các con chú không quyết được. Mỗi đứa con một nỗi buồn riêng.
Khôn dại hay may mắn chẳng phân biệt vùng miền.
Chú động viên mình rằng, so với anh em đồng đội đã hy sinh khi tuổi đời 18 - 20 thì mình được sống đến hôm nay, có con cháu vậy là may mắn rồi.
Vâng chú! Đạn bom đã cho người lính sống sót trở về một so sánh thật nghiệt ngã.
***
Từ giới hạn sinh tử mong manh trở về. Bốn mươi lăm năm sau, anh mới rụt rè kể lại.
Chốc chốc anh lại dặn cô gái bằng tuổi con gái mình rằng: "Kể cho cháu biết vậy thôi chứ đừng viết ra làm gì. Đừng viết tên chú".
Đừng kể tên chú. Các con chú không muốn.
Viết hết ra không những gì đã được nghe kể lại?
Những cuộc gặp gỡ khiến đầu óc tôi hỗn độn.
Tôi đã có mặt trong câu chuyện đó.
Tôi phải viết. Bất hạnh của các chú các bác, không vì tôi viết ra mà khác đi.
Chẳng có gì khác được nữa khi các chú các bác đi gần hết cuộc đời.
Tôi lên đường. Chuyện trò và im lặng. Im lặng và buồn bã chán chường. Tôi như người sống sót trở về.
Tôi thấy xa lạ với bạn bè. Tôi thấy mình khác họ nhiều quá.
Thời học sinh tôi đinh ninh rằng: Đất nước nào cũng có lịch sử là chiến tranh.
Tôi đã tin một khúc cuộc đời của bất cứ ai sinh ra trên đời là đau khổ.
Rồi sao - khi tôi nhận ra chân lý không phải là như vậy?.
Tôi sống có tự do hay yên ổn hơn không?..
* Đừng kể tên tôi, Phan Thúy Hà; NXB Phụ nữ Việt Nam, 2020.
* Hình: Sài Gòn, 30.4.1975
MAI THANH HẢI 29.04.2026

Aucun commentaire:
Enregistrer un commentaire
Remarque : Seul un membre de ce blog est autorisé à enregistrer un commentaire.