Cô Tư là chị của ba tôi. Dượng Tư ra Bắc khi cô đang mang bầu đứa con thứ năm. Cô ở lại vận động đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Geneve, tiến tới tổng tuyển cử, theo sự phân công của tổ chức.
Dượng vừa đi thì cô bị bắt. Cô sinh con trong tù. Con được 10 ngày tuổi, có một người bạn tù được ra tù, cô nhờ người đó mang con ra ngoài nuôi giúp cô. Hai năm sau cô ra tù, không có manh mối nào để tìm được con.
Trong tù, cô và người bạn tù lấy một cái tên khác.
Bốn người con của cô Tư là Xuông, Triều, Việt, Trung.
Anh Việt bị lính Pháp bắn khi theo mẹ đi làm liên lạc. Năm 1971, anh Xuông bị thương nhẹ, nằm điều trị tại một trạm xá ở Cà Mau, chờ ra Bắc đi học. Một tuần nữa ra Bắc, hôm đó có trận càn, anh xung phong ra chống càn, hy sinh trong trận càn đó. Anh Triều hy sinh bên Tiền Giang. Anh Trung cũng đi theo con đường của cha và các anh, hy sinh ở Bến Tre.
Cô Tư không có cơ hội tìm con khi ra tù. Không có cơ hội đi tìm xác con khi nghe tin.
Đêm nhận tin anh Triều, sáng mai cô sắp sửa chạy qua Tiền Giang tìm xác anh thì an ninh ập đến nhà bắt cô đi.
Suốt cả tháng qua, cô Tư đi đầu trong đoàn biểu tình của tỉnh Bến Tre. Cô Tư chưa khi nào ở ngoài quá 6 tháng. Từ năm 1955 đến 1973 cô bị bắt vô tù 6 lần. Bị bắt, bị tra khảo, cô đã trải qua đủ các hình thức tra tấn. "Sao cô không khai?". "Khai thì mặt mũi đâu nhìn anh em".
Cô có một sạp vải ngoài chợ. Được thả, cô ra chợ bán vải. Một mạng lưới chị em hoạt động ở chợ. Họ quan sát, nghe ngóng các động tĩnh, đếm lính, đếm máy bay, đếm vũ khí, đạn dược mới được chở đến. Một mạng lưới bí mật, thông tin của mỗi người có được rất ít, nhưng số chị em tham gia vào mạng lưới thông tin rải rác khắp vùng.
Chồng, con ra Bắc, vô bưng, chị em ở lại tạo thành những nhóm nhỏ, đông dần, liên kết với nhau. Bị bắt, thả ra lại hoạt động, vô tù. Các cô đã dày dạn với chuyện tù đày.
***
Cô Mười là em gái út, cũng là một điệp báo, nhưng khác đường dây với cô Tư. Cô Mười hoạt động trong thành. Chồng cô Mười là ký giả, bí mật hoạt động cho Mặt trận Giải phóng Miền Nam. Năm 1968, dượng Mười bị bắn khi vào thành.
Cô Mười bị bắt. Không chịu nổi các đòn tra tấn, cô khai ra người chỉ huy trực tiếp. Từ đó, cô hoạt động cho hai bên.
Bác Hai, bác Ba, ba tôi, dượng Tư ra Bắc.
Bác Ba làm quản đốc một xưởng cơ khí của Liên đoàn 9 địa chất ở Cẩm Phả, bị trúng đạn từ máy bay F-4 trên đường đi công tác.
Hòa bình, bác Hai về Nam, nhưng người con trai duy nhất của bác không còn nữa. Anh và chị dâu hy sinh, cách nhau một ngày, trong trận đánh vào đồn Cái Gấm, anh là đặc công và chị là giao liên.
Dượng Tư làm cán bộ có chức vị cao ngoài Bắc, lập gia đình riêng.
Cuối năm 1972, ba tôi vào Nam, móc nối được với cô Mười, cô tiếp tế thuốc men, thực phẩm, tiền mặt vào cho ba ở trong cứ. Ba hỏi cô Mười lấy tiền từ đâu. Nghe cách cô trả lời, ba nghi ngờ. Ba quan sát, tìm hiểu, phát hiện ra có vấn đề. Cô Mười thú nhận với ba là cô làm việc cho cả bên kia.
Ba thương cô Mười mồ côi mẹ từ lúc lẫm chẩm bước đi. Cô Mười lớn lên trong sự chăm sóc của cô Tư và các anh, bác Ba từng phải đi lính cho Pháp để có tiền nuôi em.
Để bảo vệ tính mạng em gái, ba không báo tổ chức. Để tránh rắc rối, ba viết thư ra Bắc nhắn mẹ nhờ người bố nuôi ngoài đó tác động đưa ba trở lại Bắc. Việc chưa giải quyết được thì đến ngày 30.4.1975.
****
Mẹ tôi ban đầu đi làm cách mạng vì ham vui. Từ khi ông ngoại bị giết, mẹ mới có ý thức hoạt động. Ông ngoại là một trong những người đầu tiên tham gia thành lập đảng bộ ở An Giang.
Ba ra Bắc, mẹ lên Sài Gòn hoạt động. Mẹ ở nhờ nhà người chú họ có con trai là sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa, để có một sự che đậy. Mẹ đi gánh nước thuê, học may quần áo, và đi học lớp điệp báo.
Năm 1960, mẹ tham gia vào đường dây lật đổ tổng thống Ngô Đình Diệm nhưng không thành. Tổ chức báo cho biết mẹ đã bị lộ. Mẹ phải về Đồng Tháp, tổ chức đưa qua Campuchia, Thái Lan, sang Bắc Kinh. Ở Bắc Kinh một tháng, chờ ba bảo lãnh về Hà Nội.
Về Hà Nội, mẹ đi học lao động tiền lương và về làm việc tại nhà máy sứ Hải Dương, nơi ba đang là y tá trưởng của phòng y tế nhà máy.
Tôi được sinh ra vào tối ngày 22-12-1972, tại trạm xá nhà máy sứ Hải Dương, trong những ngày máy bay B52 ném bom xuống miền Bắc. Sau 2 ngày tạm ngưng, vào đêm 26, máy bay tiếp tục ném bom. Mẹ tôi dắt hai chị xuống hầm, nhớ ra tôi vẫn ở trên, lao ra khỏi hầm ẵm tôi xuống. Giây phút đó mẹ chỉ kịp nghĩ: Chết thì không sao, nhưng sống mà thiếu tay thiếu chân thì sợ lắm.
Trước khi vào miền Nam, ba dặn mẹ "Nếu sinh con trai thì đặt tên là Việt Long". Việt là con trai cô Tư, Long là con trai một người bạn thân ba thời 9 năm. Tôi mang tên hai liệt sĩ.
Hết chiến tranh, mẹ đưa chị em tôi về Nam. Lúc đó tôi chỉ biết cô Tư bán vải ngoài chợ và làm bà mụ. Những lần bị thuế vụ thu vải cô chửi um lên. Cô chửi những người làm đường đã tự ý chặt dừa trong vườn nhà cô, chiếm đất vườn. Nhiều người sợ cô Tư. Bình thường cô Tư ít nói, tính khó.
***
Năm 1978, một ông trên Sài Gòn xuống Bến Tre, nhìn thấy cô Mười ngoài chợ. Ông chính là người chỉ huy trực tiếp của cô trước đây, vì cô chỉ điểm mà ông bị bắt, phải ra tù Côn Đảo.
Cô Mười bị bắt. Nhờ có ba mẹ tôi bảo lãnh và công lao của cô Tư, mà cô Mười bị xử án tù chỉ một năm rưỡi. Ra tù, cô Mười tìm đến một ngôi chùa của người Khơ Me, đi trọn đường tu đến cuối đời.
Việc của cô Mười đương nhiên liên lụy đến ba mẹ tôi. Lý lịch của ba thêm một dòng: "Có người thân làm việc cho địch nhưng chưa gây hại cho tổ chức". Đang là Phó Tổng cục cao su miền Nam, ba bị điều chuyển công tác. Ba tôi không lấy đó làm nặng nề. Ba lột áo nhẹ nhàng.
Trước năm 1945, lấy bằng Thành chung, ba sang Paris học y tá. Về nước năm 1946, ba làm y tá tiểu đoàn chín năm. Năm 1954 ba ra Bắc, vào Nam năm 1972, phụ trách tổ chức của ban y tế Sài Gòn Gia Định. Ba coi như đã làm xong bổn phận.
Một buổi chiều, thấy ba ngồi im nhìn xa xăm. Ba thức suốt đêm. Sáng hôm sau, mẹ nói: "Ba quay lại chiến trường". Ba đi chiến trường Campuchia, với vai trò là một y tá.
Khi tôi về Nam thì các anh mất cả rồi. Ít khi nghe nhắc về các anh. Bên nội, còn một đứa cháu trai là tôi.
***
Năm 2008, tôi qua Cồn Ốc huyện Giồng Trôm tìm mộ anh Trung. Tôi gặp lại người ngày xưa bắn anh Trung. Ngày đó, anh ta là biệt động quân, chiều tối đi càn về, thấy một người dưới bùn chui lên, hoảng sơ, bắn rồi mới biết người chết là ai. Họ đều là người trong vùng.
Tôi và anh đã có mót ngày đi đến nơi anh Trung ngã xuống, gặp những người đã chôn cất anh. Chém vè đi lên, anh Trung chỉ có chiếc quần đùi ướt, người dân đã xin quần áo mặc cho anh, rồi xin chiếu, mấy tấm ván chôn cất anh, ghi trên mộ tên anh.
Sau này, những người làm quy tập mộ liệt sĩ đã di dời mộ anh Trung vào hàng mộ liệt sĩ vô danh trong nghĩa trang liệt sĩ huyện Giồng Trôm.
***
Chiến tranh không có trong câu chuyện kể gia đình. Ba tôi nói: "Chiến tranh là điều không nên nhắc đến". Ba mẹ tôi không muốn con cái có cái nhìn đúng sai về cuộc chiến.
Đất nước thống nhất rồi. Hòa bình rồi. Trong nhà tôi không treo huy chương hay bất cứ gì gợi nhắc. Gia đình lấy ngày 27.7 làm ngày giỗ các anh.
Cô Tư như một người chưa bao giờ bị tù đày. Tôi lớn lên, tìm hiểu, biết về cô. Một người phụ nữ mãnh liệt. Tham gia cách mạng từ trước năm 1945. Bi kịch cuộc đời cô mang theo xuống mộ. Họ bảo cô làm đơn xin phong "Mẹ Việt Nam anh hùng". Cô không làm. Sau bao nhiêu đợt phong mẹ Việt Nam anh hùng, không có tên cô.
Tuổi cao, bệnh nặng, cô Mười đón cô Tư vào chùa Cây Đuốc chăm sóc những ngày cuối đời. Ngày cô Tư mất, tôi đón cô về chôn cất tại vườn nhà, bên cạnh các bác, các anh và những ngôi mộ gió.
Cô mất 2 năm rồi, mới được truy phong danh hiệu Mẹ Việt Nam Anh hùng. Tôi khắc cho cô một hàng chữ trên bia mộ: Mẹ Việt Nam Anh hùng Trần Thị Thưởng.
(Trần Huỳnh Việt Long)
* Sách "Những ngày tháng năm" của Sơn Khê; NXB Thông tin và truyền thông, 2025.
* Hình: Sài Gòn, 30.4.1975
MAI
THANH HẢI 29.04.2026

Aucun commentaire:
Enregistrer un commentaire
Remarque : Seul un membre de ce blog est autorisé à enregistrer un commentaire.