Tôi là người được ăn học và sinh sống ở Ba Lan nhiều thập niên, có nghĩa nặng tình sâu với đất nước này. Tôi cũng là người ủng hộ Ukraina hết lòng trong cuộc chiến đấu chống quân xâm lược Nga.
Mấy ngày qua, những thông tin về sự rạn nứt trong mối quan hệ giữa hai nước mà lòng buồn vô hạn.
Quan hệ giữa Ba Lan và Ukraina hiện nay thường được xem là một trong những trụ cột quan trọng nhất của an ninh Đông Âu. Kể từ khi Nga phát động cuộc chiến chống Ukraina năm 2022, Ba Lan trở thành đồng minh chiến lược then chốt của Kiev, đóng vai trò cửa ngõ hậu cần, trung tâm tiếp nhận người tị nạn và một trong những đối tác quân sự quan trọng nhất của Ukraina.
Tuy nhiên, những căng thẳng ngoại giao gần đây liên quan đến các biểu tượng lịch sử gắn với UPA đã cho thấy một thực tế sâu sắc : Ngay cả những liên minh chiến lược mạnh mẽ nhất cũng có thể bị thử thách bởi ký ức lịch sử chưa được hòa giải.
Tranh cãi hiện nay bắt nguồn từ sự kiện Volhynia trong Thế chiến II. Theo quan điểm chính thức của Ba Lan và nhiều nghiên cứu lịch sử, giai đoạn 1943–1944 tại Volhynia và Galicia đã xảy ra các cuộc tấn công có tổ chức nhằm vào dân thường Ba Lan, với số nạn nhân ước tính từ hàng chục nghìn đến hơn 100.000 người.
Quốc hội Ba Lan nhiều lần mô tả đây là một thảm kịch dân tộc nghiêm trọng, sử dụng các thuật ngữ như “thanh trừng sắc tộc”, thậm chí “diệt chủng” trong các nghị quyết mang tính chính trị – pháp lý.
Trong khi đó, phía Ukraina nhìn nhận sự kiện trong bối cảnh chiến tranh đa chiều, nơi tồn tại nhiều lực lượng : Đức Quốc xã, Liên Xô, các nhóm vũ trang địa phương và xung đột sắc tộc phức tạp.
Ký ức về Volhynia vì vậy trở thành một trong những vết nứt lịch sử sâu sắc nhất giữa hai quốc gia. Căng thẳng gần đây bùng phát khi Tổng thống Ukraina Zelensky sử dụng các biểu tượng mang tính kế thừa UPA trong việc đặt tên hoặc vinh danh một đơn vị quân sự.
Phía Ba Lan phản ứng mạnh, dẫn đến các động thái ngoại giao chưa từng có : Tổng thống Ba Lan thu hồi huân chương “Order of the White Eagle” từng trao cho Tổng thống Zelensky. Theo một số nguồn tin quốc tế, Zelenskyy được cho là đã trả lại huân chương qua đường ngoại giao, làm gia tăng tính biểu tượng của cuộc khủng hoảng.
Để hiểu tranh cãi hiện nay, cần đặt trong bối cảnh hai lực lượng lịch sử.
Armia Krajowa (AK) là lực lượng kháng chiến chính của Ba Lan, hoạt động dưới sự chỉ đạo của chính phủ Ba Lan lưu vong tại London và được Đồng minh công nhận.
UPA là lực lượng vũ trang dân tộc chủ nghĩa Ukraina, hoạt động độc lập, không được quốc tế công nhận và đặt mục tiêu xây dựng một quốc gia Ukraina độc lập.
Một trong những nguyên nhân khiến tranh cãi kéo dài là cách hai quốc gia ghi nhớ quá khứ theo những hướng khác nhau.
Giai đoạn 1943–1944 tại Volhynia là thời điểm xung đột trực tiếp và đẫm máu nhất giữa các lực lượng này, khi UPA bị cáo buộc tấn công dân thường Ba Lan, trong khi AK và các lực lượng tự vệ khác tiến hành trả đũa. Hệ quả là hàng chục nghìn người Ba Lan và hàng nghìn người Ukraina thiệt mạng trong một vòng xoáy bạo lực lẫn nhau.
Ba Lan nhìn Volhynia như một thảm kịch dân tộc mang tính hệ thống, trong đó dân thường Ba Lan là nạn nhân chính của các cuộc tấn công có tổ chức. Vì vậy, UPA trong ký ức Ba Lan thường gắn với hình ảnh đau thương và mất mát tập thể.
Trong khi đó, Ukraina nhìn UPA trong bối cảnh rộng hơn của cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, nhấn mạnh vai trò chống Liên Xô và hoàn cảnh chiến tranh hỗn loạn của thời kỳ đó.
AK trong ký ức Ukraina không phải là biểu tượng tiêu cực, nhưng được nhìn nhận như một lực lượng vừa kháng Đức vừa có những xung đột với người Ukraina trong chiến tranh. Ukraina không có bất kỳ phản ứng gì khi có rất nhiều tượng đài vinh danh AK ở Ba Lan.
Sự khác biệt này tạo ra một bất đối xứng rõ ràng : Cùng một giai đoạn lịch sử, nhưng mỗi quốc gia xây dựng một câu chuyện ký ức khác nhau, với trọng tâm nạn nhân và anh hùng khác nhau.
Một điểm quan trọng là sự khác biệt giữa chính trị và xã hội.
Người Ba Lan và người Ukraina hiện nay nhìn chung có quan hệ thân thiện, đặc biệt sau năm 2022 khi hàng triệu người Ukraina sinh sống tại Ba Lan và hai nước tăng cường hợp tác sâu rộng. Trong đời sống thường nhật, sự gắn kết xã hội giữa hai cộng đồng là rất rõ rệt.
Ngược lại, quan hệ Ba Lan – Nga lại mang tính đối đầu sâu sắc hơn, bắt nguồn từ lịch sử xung đột kéo dài và chiến tranh hiện tại.
Điều này tạo nên một nghịch lý đáng chú ý : Quan hệ xã hội tích cực, nhưng ký ức lịch sử vẫn tiếp tục tạo ra căng thẳng ở cấp độ chính trị và biểu tượng. Trong bối cảnh chiến tranh Nga – Ukraina, các tranh cãi lịch sử này trở thành một phần của chiến tranh thông tin.
Nga thường nhấn mạnh UPA như một lực lượng cực đoan dân tộc chủ nghĩa để đặt câu hỏi về tính chính danh của nhà nước Ukraina hiện đại. Đồng thời, Nga khuếch đại các ký ức đau thương như Volhynia nhằm làm suy yếu sự ủng hộ của Ba Lan dành cho Ukraina, trong khí đó chính quân Xô Viết đã thực hiện vụ thảm sát hơn 22 ngàn sĩ quan AK tại rừng Katyn năm 1940.
Mục tiêu cuối cùng của Nga không nằm ở tranh luận lịch sử, mà là làm suy yếu sự thống nhất của phương Tây trong việc hỗ trợ Ukraina.
Phản ứng của Ba Lan có thể được nhìn từ hai góc độ.
Từ phía Ba Lan, đây là vấn đề bảo vệ ký ức nạn nhân Volhynia và giữ lập trường đạo đức quốc gia.
Từ phía Ukraina và một số quan sát quốc tế, việc leo thang tranh cãi biểu tượng trong thời chiến có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến một liên minh chiến lược quan trọng.
Không có câu trả lời đơn giản, vì đây là sự va chạm giữa ký ức lịch sử và nhu cầu an ninh hiện tại.
Một yếu tố quan trọng thường bị bỏ qua là Ba Lan không có lập trường thống nhất trong vấn đề này.
Thủ tướng Ba Lan Donald Tusk và Ngoại trưởng Radosław Sikorski thường theo hướng thực dụng hơn, ưu tiên duy trì quan hệ chiến lược với Ukraina trong bối cảnh chiến tranh, dù vẫn giữ lập trường nhạy cảm về lịch sử.
Ông lưu ý rằng, "Căng thẳng giữa Ba Lan - Ukraine chỉ làm (Tổng thống Nga) Putin hài lòng và gây sốc cho các đồng minh của chúng ta. Nhiệm vụ của Tổng thống Zelensky và Tổng thống Nawrocki là làm dịu cảm xúc, chứ không phải làm gia tăng căng thẳng. Mặt trận nằm ở nơi khác".
Ngày 25-06, ông kêu gọi cần có "sự tôn trọng" trong quan hệ giữa Ba Lan - Ukraina tại Hội nghị tái thiết Ukraina lần thứ năm, diễn ra ở thành phố Gdansk (Ba Lan). "Chúng ta chỉ có thể xây dựng tương lai dựa trên sự thật, sự tôn trọng lẫn nhau và sự hiểu biết về lịch sử" - ông nói.
Cùng ngày, Thủ tướng Ukraina Yulia Svyrydenko cảm ơn người Ba Lan vì đã giúp xây dựng "tương lai chung" cho Ukraine trong Liên minh EU. "Xin cảm ơn sự giúp đỡ của các bạn trong giai đoạn chúng tôi cần được hỗ trợ nhất. Xin cảm ơn thiện chí của các bạn trong việc cùng xây dựng một tương lai chung trong EU" - bà phát biểu tại Hội nghị tái thiết Ukraina ở Gdansk.
Cũng cần nói thêm rằng, do những bất đồng trên, tổng thống Ukraina Zelensky đã không tới Ba Lan để tham dự Hội nghị và tống Ba Lan Nawrocki cũng không được mời. Trong khi đó, Tổng thống Ba Lan Nawrocki thể hiện quan điểm cứng rắn hơn đối với các biểu tượng liên quan đến UPA và ký ức Volhynia, phản ánh áp lực từ ký ức lịch sử và một bộ phận dư luận trong nước.
Bên cạnh tranh cãi chính trị, các sáng kiến từ xã hội dân sự vẫn tồn tại.
Một số tổ chức tại Ba Lan và Ukraina thúc đẩy các hình thức đối thoại ký ức và biểu tượng hòa giải, thậm chí có ý tưởng về một hình thức huân chương mang tính “tương lai và hòa giải” để trao như cử chỉ thiện chí. Dù không mang tính chính thức nhà nước, các sáng kiến này phản ánh một dòng chảy xã hội muốn duy trì quan hệ hai nước trên nền tảng hợp tác lâu dài. Sự khác biệt này cho thấy phản ứng của Ba Lan là tổng hòa giữa chính trị đối ngoại, ký ức dân sự và chính trị nội bộ.
Căng thẳng giữa Ba Lan và Ukraina cho thấy một thực tế sâu sắc của Đông Âu : Các quốc gia có thể là đồng minh chiến lược trong hiện tại, nhưng vẫn chưa hoàn toàn hòa giải quá khứ của mình. Trong bối cảnh đó, việc xử lý ký ức lịch sử không chỉ là vấn đề học thuật hay đạo đức, mà đã trở thành một phần của địa chính trị.
Một cách nhìn rộng hơn cho thấy điều này không phải hiện tượng riêng của châu Âu. Trường hợp Việt Nam – Hoa Kỳ cũng cho thấy hai quốc gia từng đối đầu vẫn có thể bình thường hóa quan hệ dù tiếp tục giữ những cách diễn giải lịch sử khác nhau về cuộc chiến trong quá khứ. Tuy nhiên, mô hình này chỉ có thể vận hành khi ký ức chiến tranh đã ổn định và không còn là điểm nóng chính trị nội bộ.
Đối với Ba Lan và Ukraina, bài học này có giá trị tham chiếu nhưng không thể sao chép nguyên xi. Khác với mô hình Việt – Mỹ, ký ức Volhynia vẫn là ký ức sống, gắn với cộng đồng và bản sắc dân tộc, trong khi cuộc chiến với Nga vẫn đang tiếp diễn, khiến mọi tranh cãi lịch sử dễ bị đẩy vào quỹ đạo chính trị.
Vì vậy, thách thức lớn nhất không phải là thống nhất cách nhìn về quá khứ, mà là tìm ra cách cùng tồn tại với những ký ức khác biệt mà không để chúng phá vỡ lợi ích chung của hiện tại. Lịch sử không chỉ là điều đã qua, mà là một nguồn lực chính trị vẫn tiếp tục vận động trong thực tế.
LÊ DIỄN ĐỨC 25.06.2026 (Tựa bài do Thụy My đặt)

Aucun commentaire:
Enregistrer un commentaire
Remarque : Seul un membre de ce blog est autorisé à enregistrer un commentaire.