Đêm 29 rạng ngày 30.4.1975, tiểu đoàn 1 của tôi (d1, e88, f302, Quân khu 7) ở Đa Phước, huyện Bình Chánh, Sài Gòn. Tôi, khi ấy là lính thông tin tiểu đoàn đi theo đại đội 3.
Ban chỉ huy đại đội đặt trong nhà dân, ẩn sau một hàng dừa nước, tiếp đó là cánh ruộng lớn chạy từ đìa dừa nước ra đến ngoài hương lộ 15.
Lúc 9 giờ 30 phút ngày 30.4, sau khi bắt được liên lạc với phía bên kia và họ chấp nhận đầu hàng, chúng tôi tràn ra lộ. Khi đại đội 3 ra tới nơi, đã thấy Ban chỉ huy tiểu đoàn cùng cánh trinh sát ở ngoài bốt và đang tiếp nhận sự đầu hàng của phía bên kia…
Anh Tiến đại đội trưởng kêu tôi và Thái, liên lạc đại đội tìm mua giúp anh bao thuốc lá. Chúng tôi cầm tiền đi ngược trở lại chừng hơn trăm mét mới gặp một tủ thuốc lá bày trước nhà và ghé vào mua một bao Capstan, còn thừa ít tiền tôi hỏi mua một cây kẹo đậu phộng.
Giữa lúc đó, có tiếng phụ nữ từ dưới ruộng “Mấy ông Việt Cộng đâu, từ Mậu Thân đến giờ tôi chưa thấy mấy ông Việt Cộng?” Và chị ấy hơi sững người khi gặp chúng tôi.
Thái lúc đó hơi lấm lem nhưng mặc quần dài, áo dài còn tôi trên mình mặc áo tay dài, dưới là chiếc quần đùi nilon màu đen, chân đi đất vẫn còn bám những vệt bùn khô trông chẳng khác gì một thanh niên chạy vịt đồng vừa từ dưới ruộng lên… nhưng vẫn được chị kia, sau khoảnh khắc khựng lại khi gặp chúng tôi, vẫn buột ra lời khen: "Mấy ổng cũng đẹp trai"…
Sau này và cho đến bây giờ mỗi lần nhớ lại thời khắc của ngày hôm ấy tôi vẫn tự hỏi về những gì đã xảy đến:
Thứ nhất, khi chúng tôi tràn ra lộ gặp những người lính phía bên kia đứng thành từng nhóm ở bên đường - Những người mà đêm qua và rạng sáng nay vẫn còn chạm súng với chúng tôi và đã có 3 người lính của tiểu đoàn tôi hy sinh.
Cả ba đứa Phúc, Trạch, Hoàn còn rất trẻ, vừa bước vào tuổi 20, nhập ngũ chưa đầy năm và cùng quê Thủy Nguyên, Hải Phòng. Vậy mà trong chúng tôi, có rất nhiều đứa cùng đoàn, cùng quê, nhập ngũ và đi B cùng đợt với mấy đứa hy sinh, nhưng không ai có biểu hiện nào từ hành động đến lời nói, kể cả ánh nhìn tỏ thái độ muốn trả thù? Vài anh em còn đến bắt tay họ, hỏi chuyện và mời, xin thuốc hút…
Thứ hai là việc anh Tiến đại đội trưởng đưa tiền kêu tôi và liên lạc của anh đi mua thuốc lá. Mua, chứ không xin, hoặc đi kiếm cho anh bao thuốc và chúng tôi y lời anh. Giả sử chúng tôi xin, dân chắc chắn phải cho. Tình thế lúc ấy lính đầu hàng rồi, nộp vũ khí rồi và chúng tôi đang mang súng theo người, nếu xin chắc chắn được nhưng trong đầu tôi không có tí ti nào suy nghĩ ấy.
Mua xong bao Capstan, thấy trên mặt tủ thuốc có mấy cây kẹo đậu phộng - tôi hỏi giá tiền, số tiền thối lại vừa đủ mua một cây kẹo, thế là hai thằng mua bẻ chia nhau.
Thứ ba, điều cuối cùng và cũng dài dòng nhất là bộ dạng của tôi lúc đó. Có lẽ tôi là “chú đội” duy nhất, có trang phục không giống ai vào Sài Gòn trưa 30.4.1975: Đầu quấn khăn nilon thay mũ, mình mặc áo tay dài, quần đùi vải nilon dầu màu đen, chân đất còn dính bùn, lưng mang ba lô tròn ủng (đã xé bỏ cóc), vai vác guồng dây điện thoại - đi bộ qua cầu chữ Y tiến vào thành phố.
Khi nghe chuyện này, không ít người đã hỏi tôi: "Dép đâu, mũ đâu, quần áo đâu mà không thay đồ cho đàng hoàng, cho có tư thế của bên thắng cuộc?".
Tôi đã nói nhiều về chuyện này, nay xin nói thêm một lần nữa cho rõ.
Đầu năm 1975 chúng tôi được bổ sung vào trung đoàn 88. Về đơn vị mới là trung đội thông tin tiểu đoàn 1, chúng tôi được lính cũ cho biết: Những cái gì liên quan đến lính Bắc, bỏ đi được là bỏ.
Đầu tiên là đôi dép cao su, mua dép mủ trắng thế vào. Rồi mũ cối, sau mấy lần tát đìa cũng liệng luôn.
Theo lời mấy anh "Chúng mày đội mũ cối, đụng trận lính nó nhìn thấy biết là ngoài bắc mới vào, nó dí tới số, chết liền". Còn dép cao su không lội ruộng, lội đìa được, vứt. Thìa và ca bi-đông chúng tôi dùng ăn cơm trên đường 559 vào đây cũng vứt, thay vào là chén kiểu, đũa kiểu. Ba lô cũng phải xé bỏ cóc, để dễ bọc khi lội sông.
Quần áo dài mang từ Bắc vào, chưa có đồ mới đành mặc tạm, còn quần đùi phải thay ngay, bằng quần vải nilon dầu. Loại này dễ lội ruộng, lội đìa, lội sông, lên bờ đi vài bước khô liền. Mặc quần vải dầy ẩm ướt cả ngày không hắc lào thì cũng ghẻ lở.
Không chỉ riêng lính mới tụi tôi, lính thuộc các đơn vị hoạt động ở đồng bằng miền Tây Nam Bộ đều như thế: Quần áo may bằng các loại vải nilon dầu, polinfăng nhẹ, bền, dễ giặt lại nhanh khô và đây chính là điểm khác biệt về trang phục giữa chúng tôi với bộ đội miền Đông Nam bộ và anh em từ ngoài Bắc vào.
Vào chiến dịch, tôi không có ngày nghỉ. Trận nào cũng xuống đơn vị trực máy, không đại đội này thì đại đội kia. Trong đánh nhau, dây điện thoại nối từ tiểu đoàn xuống đại đội đứt bất kể lúc nào, quay máy thấy nhẹ tay là dây đứt rồi, phải nối ngay.
Những lúc ấy tôi kiếm áo của dân mặc, thêm chiếc nón lá và con dao hoặc cái cuốc nữa là thành dân đi làm đồng, lần theo đường dây tìm chỗ đứt, vừa đi vừa canh chừng, như trận Chùa Trắng ở Long An tôi sém dính đạn của trực thăng.
Mỗi lần đi nối dây phải lội ruộng, lội đìa người lúc nào cũng ướt lướt thướt và lấm lem bùn đất, mặc quần đùi nilon là tiện nhất. Và như thế, tôi cứ quần đùi, đầu trần đi trực máy hết trận này đến trận kia. Còn dép, trận Cầu Dây (ở Nhựt Linh, Long An) tôi lội ruộng rải dây và theo máy vào bốt, dép lại phía sau, xong trận về tìm dép mất tiêu, đành chân đất lội bộ cho đến khi vào Sài Gòn.
Những ngày sau đó thật cơ cực, lội ruộng ướt không sao, còn ruộng khô nứt toác mỗi lần lọt chân xuống khe buốt tận óc. Vậy mà, trên đường đánh vào Sài Gòn đi qua nhiều nơi dân bỏ nhà chạy loạn để nhà trống, tôi chưa bao giờ nghĩ đến việc vào nhà dân tìm cho mình một đôi dép đi đỡ.
Trưa ngày 30.4.1975 cũng thế, tôi cũng không nghĩ đến việc xin dân đôi dép, vẫn chân đất đầu trần. Cho đến ngày 2.5.1975, mới xin tạm ứng tiền phụ cấp mua đôi dép nhựa trắng.
Với tôi và không ít anh em, thời điểm đó Sài Gòn chỉ là một mục tiêu đã hoàn thành, tới đây còn đánh nữa…
Bằng chứng là sáng ngày 1.5.1975, ở Tổng kho xăng Nhà Bè, tôi đã đắn đo rất nhiều trước khi lấy chiếc áo khoác đi mưa của sĩ quan hải quân phía bên kia.
Chiếc áo đẹp, đi mưa rất tiện, nhưng ba lô đầy rồi, phải bỏ lại tấm vải nilon đi mưa hoặc tấm tăng, cuối cùng tôi bỏ tấm vải đi mưa, giữ lại tấm tăng với suy nghĩ tới đây đi đánh rừng Sác còn có tăng để che mưa che nắng?.
Vậy nên, trưa ngày 30.4.1975, giữa dòng người xe ngược xuôi trên cầu Chữ Y, trong đội hình đơn vị, tôi vẫn đầu trần, chân đất, quần đùi đi bộ qua cầu vào Sài Gòn.
* Cựu chiến binh Vũ Sơn, chiến sĩ thông tin d1 e88 f302 Quân khu 7.
* Hình: Cựu chiến binh Vũ Sơn (phải) và anh Trịnh Quang Sửu (Ct c4, d1). Bộ đồ của anh Sửu là trang phục của lính hoạt động ở miền Tây Nam bộ. Ảnh chụp 2.5.1975 ở Phú Xuân, Nhà Bè, Sài Gòn.
MAI THANH HẢI 30.04.2026

Aucun commentaire:
Enregistrer un commentaire
Remarque : Seul un membre de ce blog est autorisé à enregistrer un commentaire.