jeudi 15 octobre 2026

Tino Cao - Mậu Thân 1968 và món nợ với những người đã khuất


Sáng nay, ngày 14 tháng 10 năm 2026, chính quyền thành phố Hồ Chí Minh tổ chức lễ truy điệu và an táng 731 bộ hài cốt được tìm thấy tại công viên Lê Thị Riêng, được xác định là của những chiến sĩ đã thiệt mạng trong cuộc tấn công Tết Mậu Thân năm 1968.

Sau gần 60 năm nằm dưới lòng đất, những người chết được đưa về Nghĩa trang liệt sĩ thành phố Hồ Chí Minh trong một buổi lễ trang trọng, với sự tham dự của các nhà lãnh đạo trung ương và địa phương.

Những cuộc tìm kiếm và quy tập hài cốt liệt sĩ theo cách như thế hoàn toàn xứng đáng được trân trọng. Một người lính chết trong chiến tranh, bất luận đã chiến đấu vì lý tưởng nào, đều có gia đình, quê hương, một tên gọi và một cuộc đời từng hiện hữu. Việc tìm lại hài cốt, xác định danh tính và trao cho họ một phần mộ tử tế là trách nhiệm nhân đạo, là nghĩa cử, mà bất cứ chính quyền văn minh nào cũng phải thực hiện.

Từ bên kia bán cầu, cá nhân tôi xin nghiêng mình tưởng nhớ những người chiến sĩ cộng sản đã nằm xuống trong cuộc nội chiến tương tàn ấy. Xin thành kính cầu nguyện cho linh hồn họ được yên nghỉ.

Tuy nhiên, chính sự kiện này cũng gợi lên một câu hỏi chưa bao giờ được giải đáp thỏa đáng sau hơn nửa thế kỷ. Những người Việt Nam đã chết ở phía bên kia chiến tuyến đã được đối xử ra sao?

Cuộc tấn công Tết Mậu Thân năm 1968 là một trong những biến cố đẫm máu nhất của chiến tranh Việt Nam. Các lực lượng cộng sản đồng loạt tấn công vào nhiều đô thị miền Nam, trong đó có Sài Gòn, và vấp phải sự chống trả của quân đội Việt Nam Cộng Hòa cùng quân đội Mỹ. Những trận giao tranh tại Tân Sơn Nhất, Chợ Lớn, Gia Định và nhiều khu vực khác đã gây thương vong nặng nề cho cả hai phía, cùng những tổn thất nghiêm trọng đối với thường dân.

Người ta có thể tiếp tục tranh luận về mục tiêu chính trị, trách nhiệm quân sự và hậu quả lịch sử của cuộc tấn công. Những tranh luận ấy rồi sẽ được lịch sử mai sau tiếp tục xem xét bằng chứng cứ, với sự công bằng và trung thực. Nhưng cái chết của một người lính Việt Nam Cộng Hòa ngày ấy cũng gây ra nỗi đau đớn cho cha mẹ, vợ con và gia đình họ không khác gì cái chết của một người lính cộng sản đâu.

Trong gia đình chúng tôi, cậu và chú tôi đều từng là sinh viên Bách Khoa Phú Thọ, Sài Gòn, vừa tốt nghiệp kỹ sư thì bị động viên nhập ngũ. Sau mấy tháng huấn luyện ở quân trường Thủ Đức, cả hai phải ra trận, và tử trận ngay trong những cuộc giao tranh dịp Tết Mậu Thân năm 1968. Chưa kịp thực hiện những dự định nghề nghiệp và hoài bão cuộc đời, họ đã thiệt mạng trong một cuộc chiến mà hoàn cảnh lịch sử không cho phép có sự lựa chọn nào.

Một trong hai người, là cậu tôi, tử trận tại khu vực cầu Bình Lợi cửa ngõ Sài Gòn, được quân đội và gia đình đưa về an táng tại nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi. Tháng 8 năm 1979, tôi theo ba tôi đến viếng mộ cậu và tận mắt chứng kiến ảnh chân dung cậu ốp trên bia mộ đã bị ai đó đục phá, đặc biệt ở đôi mắt. Hàng loạt chân dung trên các bia mộ tử sĩ chung quanh cũng bị đục vào đôi mắt và đập nát tương tự. Cảnh tượng đau lòng ấy đến nay tôi vẫn không quên.

Sau cuộc giải tỏa nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi năm 1983, phần mộ hoàn toàn mất dấu. Gia đình không nhận được bất cứ thông báo nào về địa điểm cải táng, cũng không biết hài cốt người thân đã được chuyển đi đâu, liệu có bị thu gom và chôn chung tại một địa điểm nào đó hay không. Một người đã chết trong chiến tranh, từng có tên tuổi và mộ phần, cuối cùng không xác định được nơi an nghỉ ngay trên quê hương mình.

Ngày 29 tháng 4 năm 1983, Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Chỉ thị 17/CT-UBND, do phó chủ tịch thường trực Trần Văn Danh ký, quy định việc di chuyển nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi để giải tỏa khu đất, sau này trở thành công viên Lê Văn Tám. Theo chỉ thị, các phần mộ sẽ được di chuyển về những nghĩa trang mới tại hai tỉnh Sông Bé và Đồng Nai (cũ). Công ty vệ sinh và mai táng thành phố được giao trách nhiệm thông báo kế hoạch, giải quyết thủ tục cải táng và hướng dẫn thân nhân; Sở Ngoại vụ có trách nhiệm thông tin cho cơ quan ngoại giao và người Việt ở nước ngoài. Thời hạn di dời được ấn định đến ngày 30 tháng 8 năm 1983.

Đặc biệt, những ngôi mộ không có người đăng ký di chuyển sau thời hạn thông báo sẽ bị xem là mộ “vắng chủ” và do cơ quan mai táng xử lý theo kế hoạch của thành phố. Quy định ấy cần được xem xét trong hoàn cảnh nhiều gia đình đã ly tán sau chiến tranh, một số người phải rời Việt Nam, nhiều người sống xa Sài Gòn hoặc không có điều kiện tiếp cận thông báo của chính quyền. Một ngôi mộ không có người đến đăng ký cải táng kịp thời gian đâu có nghĩa là người chết không có thân nhân. Chỉ thị năm 1983 cho thấy chính quyền đã quy định trách nhiệm thông báo và tổ chức di dời, nhưng văn bản ấy không chứng minh rằng mọi phần mộ thực sự được cải táng đúng thủ tục và thân nhân đều được biết địa điểm an táng mới.

Điều cần làm sáng tỏ là những ngôi mộ thuộc diện “vắng chủ” đã được xử lý ra sao, hài cốt có được chôn cất riêng biệt và ghi nhận danh tính, hay đã bị thu gom, chôn chung tại những địa điểm không xác định. Việc cải táng theo một quyết định hành chính phải đi kèm trách nhiệm lưu giữ hồ sơ, bởi người thân của những người đã chết có thể tìm đến nhiều năm sau đó. Nếu những bức ảnh cũ, lời kể nhân chứng và tài liệu quân sự có thể giúp tìm lại hàng trăm bộ hài cốt sau 58 năm, liệu các hồ sơ hành chính về cuộc giải tỏa nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi năm 1983 có thể giúp tìm lại những người đã mất dấu hơn 40 năm qua?

Chính quyền thành phố cần cho biết những danh sách mộ phần, biên bản di dời và sơ đồ cải táng hiện được lưu trữ ở cơ quan nào, những khu nghĩa trang tại Sông Bé và Đồng Nai khi ấy thuộc địa điểm nào ngày nay, và bằng cách nào thân nhân có thể tra cứu. Nếu hồ sơ đã thất lạc, cũng cần làm rõ hoàn cảnh thất lạc và khả năng phục hồi thông tin. Đối với những gia đình như chúng tôi, câu trả lời ấy có ý nghĩa thiết thực hơn bất cứ tuyên bố nào về sự tri ân hay hòa giải.

Việc xác minh cũng cần được thực hiện bằng những phương pháp đã được sử dụng trong công tác tìm kiếm hài cốt chiến tranh. Các cơ quan hữu trách có thể đối chiếu danh sách cải táng với giấy báo tử, hồ sơ quân nhân, ảnh mộ cũ và tài liệu do thân nhân cung cấp; trường hợp tìm được hài cốt có đủ điều kiện thì tiến hành giám định ADN để xác định danh tính. Một đầu mối tiếp nhận thông tin cho các gia đình trong và ngoài nước sẽ giúp những yêu cầu tìm kiếm được giải quyết có hệ thống.

Chính công việc vừa thực hiện tại công viên Lê Thị Riêng cho thấy tư liệu lịch sử, lời chứng của những người liên quan và các phương pháp khoa học có thể giúp tìm lại những người đã chết từ nhiều thập niên trước. Những kinh nghiệm ấy cũng có thể được áp dụng đối với các nghĩa trang đã giải tỏa, bất kể người được chôn cất từng là thường dân hay quân nhân thuộc lực lượng nào.

Ủy ban Hồng Thập Tự Quốc tế từ lâu đã khẳng định rằng gia đình những người mất tích trong chiến tranh có quyền được biết số phận của thân nhân. Luật nhân đạo quốc tế cũng yêu cầu các bên tham chiến thực hiện những biện pháp cần thiết để tìm kiếm người mất tích, xác định danh tính người chết, bảo vệ phần mộ và cung cấp thông tin cho gia đình. Những trách nhiệm liên quan đến việc tìm kiếm và nhận dạng hài cốt tiếp tục có ý nghĩa sau khi chiến tranh chấm dứt.

Việc tôn trọng hài cốt người lính Việt Nam Cộng Hòa hoàn toàn không buộc nhà nước hiện nay phải thay đổi quan điểm lịch sử về cuộc chiến. Cũng chẳng ai nhất thiết đòi hỏi tất cả người chết phải được công nhận một danh hiệu hoặc hưởng một chế độ chính sách. Một chính quyền có thể tưởng niệm những người đã chiến đấu cho sự nghiệp mà chính quyền ấy kế thừa, nhưng trách nhiệm quản lý đất nước của nhà nước ngày nay cũng bao gồm những công dân và gia đình có quá khứ chính trị khác biệt. Hòa giải dân tộc sẽ thiếu sức thuyết phục nếu thân nhân của một bộ phận người chết vẫn phải tự xoay xở tìm kiếm mộ phần và không biết phải yêu cầu sự giúp đỡ từ ai.

Thực tế đã từng ghi nhận một chuyển biến trong cách ứng xử với những người lính Việt Nam Cộng Hòa tử trận. Năm 2006, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng quyết định chuyển khu nghĩa trang quân đội Biên Hòa cũ sang mục đích dân sự. Việc chuyển giao tạo điều kiện cho thân nhân sửa chữa, chăm sóc và thăm viếng mộ phần. Trong cuộc phỏng vấn của BBC năm 2007, cố thủ tướng Võ Văn Kiệt thừa nhận tình trạng không thừa nhận nghĩa trang ấy trong nhiều thập niên là điều vô lý. Ông tán thành quyết định chuyển giao, và cho biết bản thân đã chưa thực hiện được việc đó trong thời gian giữ chức thủ tướng. Những nhận xét này được nhà báo Xuân Ba ghi nhận trong bài viết đăng trên Tiền Phong ngày 30 tháng 4 năm 2014.

Điều đáng nói là ngay trong hàng ngũ những người lãnh đạo chế độ sau năm 1975, đã xuất hiện nhận thức rằng việc đối xử với người chết không thể tiếp tục bị chi phối mãi bởi sự phân chia ý thức hệ và lập trường chính trị của mỗi bên trong cuộc chiến. Dĩ nhiên, việc chuyển một nghĩa trang sang mục đích dân sự chưa giải quyết được mọi tổn thất của quá khứ, nhưng ít nhất đã thừa nhận quyền thăm viếng và chăm sóc phần mộ của những gia đình có người thân tử trận ở phía Việt Nam Cộng Hòa.

Một trường hợp khác có thể được xem xét ngay từ quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Ngày 2 tháng 7 năm nay, tại Đà Nẵng, Việt Nam và Hoa Kỳ tổ chức lễ trao trả lần thứ 173 hài cốt quân nhân Mỹ mất tích trong chiến tranh. Theo số liệu do Bộ Quốc phòng Việt Nam công bố tháng 11 năm 2025, Việt Nam đã trao trả 994 hòm đựng hài cốt. Sau ba lần trao trả tiếp theo, tổng số tăng lên 997 hòm, trong đó khoảng 740 trường hợp quân nhân Mỹ đã được xác định danh tính và đưa hài cốt về gia đình.

Đó là thành quả nhân đạo cần được ghi nhận. Hai quốc gia từng giao chiến nay có thể cùng tìm kiếm người chết, trao đổi tài liệu, tiến hành giám định pháp y và trao trả hài cốt cho thân nhân. Chính quyền Việt Nam đã sốt sắng thực hiện những công việc ấy đối với quân nhân của một quốc gia từng tham chiến chống lại mình. Vậy có lý do nhân đạo nào để những gia đình Việt Nam có người thân từng phục vụ trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa không được tiếp cận sự hỗ trợ tương tự?

Đây là những người Việt Nam, có thân nhân Việt Nam, và đã nằm xuống trên chính lãnh thổ Việt Nam. Việc tìm kiếm hài cốt quân nhân Mỹ được thực hiện qua nhiều thập niên, với sự hợp tác của cả hai chính phủ. Đó cũng là kinh nghiệm thực tế cho thấy việc xác định danh tính và trao trả hài cốt người chết có thể được tiến hành, bất chấp những bất đồng lịch sử giữa các bên từng giao chiến.

Chiến tranh đã chấm dứt từ năm 1975. Thế hệ trực tiếp tham chiến nay phần lớn đã qua đời, nhưng đối với nhiều gia đình, hậu quả của cuộc chiến vẫn chưa kết thúc. Chiến tranh đã cướp đi sinh mạng của những người thân chúng tôi. Một cuộc cải táng do chính quyền thực hiện không thể khiến gia đình mất luôn cả dấu tích phần mộ của người đã khuất mà không nhận được một lời giải thích.

Người lính có thể đã chết ở phía thất trận, nhưng cái chết của họ hoàn toàn đáng được tôn trọng, và gia đình họ có quyền biết người thân mình đang yên nghỉ ở đâu. Đó là một lẽ phải không phụ thuộc vào bên nào đã thắng trong cuộc chiến này.

TINO CAO 14.10.2026

 

Aucun commentaire:

Enregistrer un commentaire

Remarque : Seul un membre de ce blog est autorisé à enregistrer un commentaire.