Tăng trưởng GDP các tỉnh phía Bắc (Quảng Ninh, Hải Phòng, Bắc Ninh…) vượt “chỉ tiêu” ở mức 11 % - 15 %, trong khi các tỉnh miền Tây (đồng bằng sông Cửu Long - ĐBSCL) lẹt đẹt ở mức 5 % - 6 %. Những con số này tố cáo sự bất bình đẳng ở việc phân bổ ngân sách đầu tư.
Nếu ví ngân sách đầu tư công (khoảng 600 tỉ đô la) để đạt chỉ tiêu tăng trưởng GDP hai số là “cái bánh”, thì rõ ràng miền Nam không có miếng bánh nào “nhét kẽ răng” hết cả.
Vấn đề là sự “bất bình đẳng” không phải chỉ xuất hiện mới đây.
Theo số liệu thống kê chính thức của Tổng cục Thống kê (GSO), 14,5 % là con số tỉ lệ lao động (15 tuổi trở lên) ở miền Nam (ĐBSCL) có bằng cấp hay chứng chỉ đào tạo. Con số bình quân cả cả nước dao động quanh mức 27 % - 28 %. Khu vực Hà nội tỉ lệ lao động có bằng cấp là 38 %, Sài Gòn 28 %, Bắc Trung bộ (Thanh, Nghệ, Tĩnh) 27 %, trung du và miền núi phía Bắc 22 %, Tây nguyên 17 % và Nam kỳ lục tỉnh 14,5 %.
Tức miền Nam có “chỉ số dốt” cao nhứt nước, cao hơn cả Tây nguyên và thượng du Bắc Việt.
Nguyên nhân do đâu ?
Trước năm 1975, miền Nam mặc dầu bị chiến tranh tàn phá, nhưng ở đây đã hình thành một hệ thống giáo dục đại học và viện nghiên cứu nông nghiệp bài bản có thực chất như Đại học Cần Thơ, Viện Khảo cứu Nông nghiệp, các trường Cao đẳng Kỹ thuật…
Sau năm 1975, việc phân loại thành phần xã hội và thẩm tra lý lịch "ba đời" được áp dụng gắt gao trong việc tuyển sinh đại học, cao đẳng và du học. Con em của hàng triệu người từng phục vụ trong chính quyền (ngụy quyền), trong quân đội Việt Nam Cộng hòa (ngụy quân), hoặc thuộc tầng lớp địa chủ, tư sản (bóc lột)... bị hạn chế hoặc cấm cửa hoàn toàn bước vào ngưỡng cửa đại học và các trường công lập.
Giáo dục cũng như truyền thống gia đình là sự tích lũy có tính kế thừa. Khi thế hệ cha ông bị buộc vào tội “tư bản bóc lột”, là “trí thức tư sản”... bị tù đày, thì con cháu của họ sẽ không bao giờ dám mơ tưởng tới việc làm giàu hay trở thành bác học.
Khi cả một thế hệ thanh niên trí thức thập niên 1970-1980 bị chặn đường tiến thân, con cái của họ (sinh ra vào thập niên 1990-2000) cũng mất đi bệ đỡ văn hóa gia đình, mất đi động lực coi chuyện học là con đường đổi đời duy nhứt. Nhiều gia đình buông xuôi, chuyển sang làm nông hoặc chấp nhận các công việc chân tay đơn giản.
Vấn đề là cái “dốt nhứt nước” đi đôi với cái “nghèo nhứt nước”.
Chánh sách "Cải tạo công thương nghiệp tư doanh" (các chiến dịch X1, X2, X3) sau 1975 ngoài việc tịch thu toàn bộ tài sản của dân miền Nam, nó còn là một cú “đào tận gốc trốc tận rễ” tầng lớp doanh nhân bản địa.
Trước 1975, Sài Gòn và Chợ Lớn là trung tâm tài chánh - thương mại của cả khu vực, kết nối trực tiếp với mạng lưới thương nhân lúa gạo ở Chợ Mới, Sa Đéc, Mỹ Tho. Việc quốc hữu hóa và xóa bỏ kinh tế tư nhân đã làm sụp đổ hoàn toàn mạng lưới kinh tế này.
Ngoài ra miền Nam còn phải chịu làn sóng tị nạn và hiện tượng chảy máu chất xám.
Tầng lớp tinh hoa bác sĩ, kỹ sư, giáo sư, nhà kinh doanh, các nhà tư bản gốc Hoa và Việt… vì sợ tù đày hay đuổi đi “kinh tế mới” nên phải theo làn sóng vượt biên ra nước ngoài. Khiến cho miền Nam không chỉ mất đi tư bản vật chất mà còn mất đi những tài năng kinh bang tế thế.
Miền Nam “dốt nhứt nước” và “nghèo nhứt nước”. Nhưng vẫn chưa đủ. Miền Nam còn bị loại ra ngoài hệ thống quyền lực.
Cho tới bây giờ việc tuyển chọn lãnh đạo vẫn dựa lên tiêu chuẩn "hồng hơn chuyên" và nguồn cán bộ cốt cán được ưu tiên tuyệt đối từ lực lượng miền Bắc hoặc số ít cán bộ tập kết.
Thời kỳ sau 1975, một số trí thức, kỹ trị Việt Nam Cộng Hòa cũ chỉ được dùng ở vai trò “trái chanh”, dưới danh nghĩa “cố vấn chuyên môn” (như nhóm thứ sáu ở thời ông Võ Văn Kiệt). Họ không có thực quyền ra quyết định chiến lược. Khi “dùng” xong thì số phận họ như trái chanh hết nước.
Cán bộ gốc miền Nam, những người am hiểu sâu sắc văn hóa, địa lý và đặc tính sông nước của Đồng bằng sông Cửu Long, chiếm tỉ lệ thấp ở các cấp hoạch định chánh sách vĩ mô. Bằng chứng là các qui hoạch quốc gia thường bị áp đặt theo tư duy của đồng bằng Bắc Bộ (ví dụ: tư duy đắp đê bao khép kín ngăn lũ, biến Đồng bằng sông Cửu Long thành vùng độc canh lúa, triệt tiêu chu kỳ tự nhiên của sông Mekong).
Điều làm tôi phân vân không tìm ra được câu trả lời, là thành phần cực đoan nhứt của chế độ lại luôn là người miền Nam. Công an miền Nam vô lương tâm và ác độc hơn công an miền Bắc. Tuyên giáo bò đỏ miền Nam luôn ngu dốt và cực đoan hơn bò đỏ miền Bắc. “Đỏ” cách mấy thì cán bộ miền Nam vẫn không được trọng dụng. Cái “lý lịch ba đời” áp dụng cho dân nhưng để thành “cán bộ” thì phải là “cửu tộc”, chín đời.
Hà Nội ngày nay tập trung dày đặc các trường đại học và viện nghiên cứu lớn. Các tỉnh Bắc Ninh, Hải Phòng, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Hưng Yên… chỉ trong vài năm đã trở thành và các khu công nghiệp FDI công nghệ cao.
Miền Nam bị “cào bằng”, lớp tinh hoa bị triệt tiêu, tư bản bị tước đoạt. Miền Nam bị kéo lùi tốc độ phát triển vì không được chia miếng bánh nào trong cái bánh (600 tỉ đô la đầu tư công). Nhưng theo tôi miền Bắc không vì vậy mà giàu lên nhanh hơn. Không một quốc gia nào giàu lên bằng cách cào bằng, kiểu "đào Nam đắp Bắc".
Vả lại chuyện tăng trưởng GDP “hai số”, mưu sự tại Tô Lâm nhưng thành sự là ở áp lực đồng đô la Mỹ, là tỉ giá lãi suất bên Mỹ, là thuế quan bên Mỹ…
TRƯƠNG NHÂN TUẤN 07.10.2026


Aucun commentaire:
Enregistrer un commentaire
Remarque : Seul un membre de ce blog est autorisé à enregistrer un commentaire.