Đoàn của Tổng bí thư Tô Lâm đã đến Mỹ để tham gia Hội nghị hòa bình Gaza, được sử dụng như là cái cớ ngoại giao hợp lý để sau đó, một cách thuận lợi có được một cuộc hội đàm trực tiếp.
Mục tiêu của chuyến đi và tiếp xúc nhằm tìm kiếm một cơ chế miễn trừ hoặc “đối xử đặc biệt” trong bối cảnh thuế quan Mỹ đang biến động khó lường. Ông Tô Lâm đã gặp Trump vào sáng 20/2, tức là trước khi Trump đưa ra các đòn phản công lại Tòa án tối cao Hoa Kỳ.
Cụ thể, trong ngày 20/02/2026 hôm đó Tòa án Tối cao Mỹ ra phán quyết (tỉ lệ 6/3) khẳng định việc Trump dùng Đạo luật Quyền lực Kinh tế Khẩn cấp Quốc tế (IEEPA) để áp thuế diện rộng là vượt quá thẩm quyền.
Ngay trong ngày 20/02, Trump ký sắc lệnh áp mức thuế 10 % thay thế dựa trên một “vũ khí” khác là Điều 122 của Đạo luật Thương mại 1974. Ngày 21/02/2026 Trump tiếp tục gây tăng nhiệt trên Truth Social khi tuyên bố nâng mức thuế này lên tối đa 15 % (mức trần pháp lý của Điều 122), đồng thời công kích phán quyết của Tòa án là “nực cười” và “phản Mỹ.”
Trump đang lách phán quyết của Tòa bằng cách chuyển sang một đạo luật mà chưa từng có Tổng thống nào sử dụng trước đây. IEEPA đòi hỏi tình trạng khẩn cấp quốc gia (đã bị Tòa bác bỏ vì thâm hụt thương mại không được xem là tình trạng khẩn cấp). Còn áp dụng Điều 122 thì cho phép Tổng thống áp thuế tới 15 % trong vòng 150 ngày để giải quyết vấn đề "thanh toán quốc tế" mà không cần điều tra trước. Sau 150 ngày mới cần Quốc hội phê chuẩn.
Mục tiêu của Trump là tạo ra một khoảng thời gian đệm dài 5 tháng để các bộ ngành trong nội các của mình hoàn thiện các cuộc điều tra mới (theo Điều 301) nhằm áp thuế vĩnh viễn và hợp pháp hơn. Nếu như trước đây tôi viết, các đối tác nay biến thành đối thủ của Hoa Kỳ dưới thời Trump, đã và sẽ chọn các đối sách ngắn hạn, thì chính Trump cũng chọn chiến thuật tương tự. Chẳng hạn, ngay cả khi Tòa án Hoa Kỳ ra thêm phán quyết, hoặc thậm chí Quốc hội Hoa Kỳ ra một quyết định gì đó bất lợi thì thời gian 150 ngày đủ để ông ta đạt được các mục tiêu đàm phán chính trị.
Việc ông Tô Lâm trực tiếp sang Mỹ trong bối cảnh này cho thấy Việt Nam đang đặt ưu tiên cực cao vào việc duy trì sự ổn định cho dòng chảy hàng hóa sang thị trường Mỹ. Các diễn biến sau cuộc tiếp xúc Tô Lâm – Trump cho thấy, dù Tòa án Hoa Kỳ đã ra phán quyết có lợi, nhưng việc Trump áp thuế 10 – 15 % mới này (có hiệu lực luôn từ 24/02) sẽ khiến các doanh nghiệp Việt Nam tiếp tục rơi vào trạng thái phấp phỏng chờ đợi trong lo âu. Đối với hàng hóa Việt Nam, sự “chống cự” này của Trump có nghĩa là không có khoảng nghỉ nào cho thuế quan. Chúng ta “vừa thoát khỏi IEEPA thì lại rơi ngay vào Điều 122.” Đến là mệt.
Đến bây giờ thì dần dần, tôi đã hiểu hơn về con người và cách hành xử của Trump. Trong thế giới quan của Trump, thương mại không bao giờ là một bài toán kinh tế thuần túy, mà là một “vũ khí cưỡng chế” để tái lập trật tự thế giới theo ý muốn của ông ta. Khi nghe tin Tòa án tối cao Hoa Kỳ ra phán quyết hôm 20/02, hai người bạn của tôi cùng nói một câu : Chưa có gì chắc chắn, Trump sẽ lại có bài nào đó khác để phản đòn. Việc nâng từ 10 % lên 15 % tức là kịch trần điều 122 cho phép chính là cách Trump tuyên bố không quan tâm Tòa án ra phán quyết gì mà sẽ làm bất cứ điều gì để đạt được mục đích.
Với Việt Nam, theo tôi hiểu, Trump biết thừa hàng hóa Mỹ vào Việt Nam không đáng bao nhiêu, nhưng với con số thâm hụt thương mại của Mỹ với Việt Nam đã vọt lên mức khổng lồ những năm qua thường là những thứ dễ đập vào mắt, sẽ làm cho ông ta đặc biệt khó chịu. Không khó để nhận thấy, Trump nghi ngờ Việt Nam đang bị Trung Quốc dùng làm điểm núp bóng cung cấp “giấy chứng nhận xuất xứ” để lách thuế Mỹ. Bằng cách áp thuế cao lên Việt Nam, ông ta buộc các chuỗi cung ứng phải thực sự rời bỏ khu vực chịu ảnh hưởng của Trung Quốc, hoặc phải đem nhà máy về lại đất Mỹ.
Có một nhà phân tích tài chính giảng cho tôi : Khác với các đời Tổng thống trước coi thuế quan là công cụ điều tiết, Trump coi thuế quan là một nguồn thu trực tiếp. Ông ta dùng số tiền thuế thu được từ hàng nhập khẩu để bù đắp cho việc cắt giảm thuế thu nhập doanh nghiệp trong nước. Đây là chiến lược “lấy mỡ nó rán nó” để kích thích kinh tế Mỹ mà không làm tăng nợ công quá nhanh.
Theo tôi, Tổng bí thư Tô Lâm gặp Trump vốn là con buôn thích số má, sẽ phải đưa ra những cam kết cụ thể về việc mua các gói năng lượng khổng lồ (LNG) hoặc thiết bị quân sự, máy bay Boeing... từ Mỹ để làm đẹp bảng cân đối thương mại. Tôi nhận thấy việc ông Tô Lâm gặp Trump gần như trùng thời điểm với việc Tòa án tối cao Hoa Kỳ ra phán quyết liên quan đến IEEPA, là một yếu tố khó khăn chứ không phải thuận lợi vì Trump đang ở trong hoàn cảnh “chắc chắn sẽ phải có phản đòn.”
Đúng là như vậy, việc Trump lách phán quyết của Tòa án mà áp dụng Điều 122, không hẳn chứng minh luôn ông ta là một “đối tác” cực kỳ khó đoán và sẵn sàng lật kèo bất cứ lúc nào ; mà chính xác là ông ta gặp đấy, thỏa thuận đấy nhưng vẫn cứ làm khác đi, thậm chí 180 độ chỉ do những toan tính tức thời của mình.
Điều đáng ngại nhất trong câu chuyện với Trump, là sự bất cân xứng trong nhận thức. Nếu theo dõi tin tức quốc tế trong thời gian qua liên quan đến Trump và quan hệ Hoa Kỳ – Việt Nam mà chỉ cần tỉ mỉ một chút thôi, sẽ luôn cảm thấy Trump có điều gì đó mơ hồ, thậm chí ông này còn bị giải thích là… có vấn đề về tâm thần hay bệnh lý gì đó. Nhưng có một người thạo Trump lại đưa ra ý kiến khác, tôi xin viết vào đây để rộng đường dư luận. Việc Trump gọi một nhà lãnh đạo quốc gia là “một người đàn ông nào đó” (a gentleman) không chỉ là vấn đề trí nhớ, mà là một thủ thuật hạ thấp vị thế. Trump thường chỉ ghi nhớ những người mà ông ta coi là “đối trọng trực diện” như Tập Cận Bình, Kim Jong Un hoặc đối tác đủ cân bằng hoặc nặng ký hơn, như Putin… hoặc những người nịnh nọt ông ta đủ mức.
Việt Nam với đường lối ngoại giao đa phương, riêng với Hoa Kỳ luôn có một sự độc lập nhất định, đương nhiên là không đủ mức nịnh nọt với Trump. Ngược lại, với đường lối của mình, Việt Nam nỗ lực xây dựng một hình ảnh về một “Đối tác chiến lược toàn diện,” một “mắt xích không thể thay thế” trong chuỗi cung ứng toàn cầu… Nhưng đối với Trump, thế giới dường như chỉ chia làm hai nhóm : Nhóm đang lợi dụng Mỹ và nhóm đang phụ thuộc Mỹ. Với những nước mà ông ta cho là đang hưởng lợi từ thâm hụt thương mại với Hoa Kỳ, ông ta mặc định xếp vào nhóm cần phải bị xử lý, bất kể tên tuổi hay bề dày lịch sử ngoại giao.
Mọi thứ còn trở nên trầm trọng hơn là Trump có xu hướng không còn khả năng (hoặc không muốn) nắm bắt các chi tiết phức tạp của địa chính trị, ông ta sẽ hành động dựa trên bản năng và định kiến. Sợ nhất là khi gặp lãnh đạo Việt Nam, ông ta chỉ nhớ được những từ như thế này trong vốn từ vựng của mình : “thâm hụt”, “Trung Quốc”, “núp bóng”, “gian lận”…
Chuyến đi của Tổng bí thư Tô Lâm có thể đạt được những kết quả về mặt hình thức (nghi thức đón tiếp, thông cáo chung), nhưng để thay đổi nhận thức gốc trong đầu Trump về Việt Nam là cực khó, và tôi không cho rằng ông Tô Lâm, vốn là người thực tế, sẽ mơ hồ về vấn đề này. Nếu quá kỳ vọng vào việc Trump hiểu và tôn trọng vị thế của Việt Nam, sẽ dễ rơi vào thất vọng. Thay vào đó, có lẽ chiến lược “thực dụng tận cùng” – coi mỗi lần gặp Trump là một lần mua bán sòng phẳng – lại là cách duy nhất để tồn tại ?
Theo tôi, tầm nhìn về một nền sản xuất tự cường và quá trình thoát Trung về mặt kinh tế không còn là một lựa chọn nên hay không nên nữa, mà đã trở thành một lựa chọn có tính sống còn. Chúng ta phải nhìn thẳng vào sự thật : Đã sắp hết thời bán sức lao động giản đơn hoặc “cao hơn giản đơn một tí”. Khi thời kỳ dân số vàng khép lại, lợi thế về nhân công rẻ sẽ biến mất. Nếu không thể tự chủ sản xuất và nâng cấp chuỗi giá trị (từ làm thuê sang làm chủ), chúng ta sẽ rơi vào cái bẫy thu nhập trung bình một cách thê thảm nhất.
Những chính sách thuế quan khắt khe của Trump, dù gây đau đớn ngắn hạn, nhưng lại là một lời cảnh báo : Việt Nam không thể mãi là cửa sau hay trạm trung chuyển cho hàng hóa nước khác. Nó buộc các doanh nghiệp nội địa phải tự xây dựng thương hiệu và tiêu chuẩn riêng để đứng vững toàn cầu. Vì vậy, áp lực từ Trump hoàn toàn có thể là cú hích ngược chiều để tồn tại và vùng dậy. Quá trình “thoát Trung” không có nghĩa là cắt đứt, mà là giảm sự phụ thuộc quá mức vào nguồn nguyên liệu và thị trường đầu vào từ một phía.
Sự chuyển dịch từ làm thuê trên chính quê hương của mình sang làm chủ quy trình sản xuất chính là chìa khóa để tận dụng những cơ hội còn lại của giai đoạn cuối thời kỳ dân số vàng và nó đòi hỏi ở chẳng ai khác, mà từ người đứng đầu, ông Tô Lâm, một tư duy khác biệt và mạnh dạn. Từ đó các thành phần của hệ thống chính trị và công quyền mà ông đã và sẽ xây dựng, mới có thể đưa ra những quyết sách tạo điều kiện cho kinh tế sản xuất Việt Nam phát triển.
Có như vậy, Việt Nam mới có thể độc lập tự chủ được, mà tôi nghĩ ông Tô Lâm cần hình dung về địa chính trị là “Việt Nam phải không phụ thuộc vào bất cứ ai dù đó là Hoa Kỳ hay Trung Quốc…” – tức là phải xây dựng và củng cố được cốt lõi của nền kinh tế sản xuất tự lực, tự cường. Việt Nam cần xây dựng một nội lực đủ mạnh để dù ai làm Tổng thống Mỹ hay tình hình khu vực có biến động, Việt Nam vẫn có vốn để mặc cả với bất cứ khách hàng nào.
Đại hội 14 của Đảng cộng sản Việt Nam mới đây đã mở ra cho Việt Nam một giai đoạn mới đầy thách thức nhưng vẫn nhiều cơ hội. Thách thức kết thúc thời gian dân số vàng là nghiêm trọng nhất, cũng như những chính sách của Trump có thể gây hậu quả... Nhưng cũng là cơ hội cho Việt Nam xây dựng lại chính sách để hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất Việt Nam xây dựng lại sức mạnh của mình, chứ không chỉ có làm thuê trên chính quê hương như hiện nay. Đồng nghĩa với một quá trình thoát Trung và sẽ là một Việt Nam không quá cần phải phụ thuộc Hoa Kỳ hay ai đó trên thế giới này.
Bước sang năm Bính Ngọ, và với Việt Nam của chính quyền ông Tô Lâm, mọi thứ mới chỉ bắt đầu.
PHÚC LAI 23.02.2026

Aucun commentaire:
Enregistrer un commentaire
Remarque : Seul un membre de ce blog est autorisé à enregistrer un commentaire.