dimanche 8 février 2026

Nguyễn Thông - Chuyện bánh chưng tết (1)


Bạn Phạm Văn Tuyên  ở huyện Ninh Giang tỉnh Hải Dương (nay đã gộp vào Hải Phòng, thành đồng hương) nhắn tôi rằng, chú ơi, tết nhất sát sạt rồi, chú viết gì về tết xưa đi.

Tôi đang dở bận cái bài về... Campuchia (nhiều điều rất hay) chưa xong, nhưng sực nhớ nhời Tuyên, bèn hầu bạn phây bài bánh chưng này.

Nói về bánh chưng, có mà cả ngày cũng chửa dứt. Chiếc bánh chưng không chỉ gắn bó với Tết mà với nếp sống, phong tục của người Việt. Lứa chúng tôi hồi nhỏ, hầu như đứa nào cũng thuộc đôi câu đối đặc sản tết, liệt kê đủ món cổ truyền: “Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ/Nêu cao, tràng pháo, bánh chưng xanh”. 

Bây giờ, nhiều món đã thất truyền, bị loại bỏ, chẳng hạn thịt mỡ người ta kiêng do sợ béo phì, mỡ máu, cây nêu cũng chả mấy nhà trồng bởi giờ sợ người hơn sợ quỷ, câu đối ít người treo khi chữ Hán đã mai một, thua kém chữ quốc ngữ, còn pháo lại càng tịt, đơn giản là nhà nước cấm tiệt đã hai mấy năm rồi.

Rốt cuộc chỉ còn trụ vững, tồn tại cùng Tết, cùng người, cùng mùa xuân là bánh chưng. Bánh chưng xanh.

Tôi nhớ, cũng vẫn từ hồi còn bé tí, thày (bố) tôi cắt nghĩa rằng nếu nói về ăn gạo nếp thì người bên Lào họ ăn nhiều hơn ta, quanh năm suốt tháng chỉ có nếp, như ta ăn cơm tẻ vậy. Ông anh tôi lè lưỡi rùng mình, thế thì ngán tới tận cổ. Ổng còn đọc câu thành ngữ “ngán hơn cơm nếp nát”, rồi cắt nghĩa cơm nếp vốn đã ngán (tất nhiên do ăn nhiều), nếu gạn nước không khéo, để nhão thì thành cơm nát, thì nuốt không trôi, vào cổ chỉ ọe ọe. Lão vừa nói vừa làm động tác biểu cảm, ghê chết.

Thày tôi lại bảo, ít ăn nhưng chế biến nếp thành chiếc bánh chưng ngon tuyệt thì chỉ có người Việt ta, nó như một thứ đặc sản của dân tộc. Truyện truyền thuyết dân gian bảo rằng đó là công của hoàng tử Lang Liêu con vua Hùng.

Nghe tới bánh chưng, đám chúng tôi đứa nào cũng thèm rỏ dãi. Thời ấy, gần như cả năm mới được một lần ăn bánh chưng, mà chỉ vài miếng, ăn rồi vẫn thòm thèm. Có những đứa mong Tết để được thày bu mua cho bộ quần áo mới, được nghỉ học, khỏi phải ra đồng tưới tắm cuốc đất đập nương, được tiền mừng tuổi, nhưng cũng rất nhiều đứa chỉ chờ Tết, mong được chén miếng bánh chưng.

Chuyện tôi đang kể đây vẫn đậm trong ký ức, về thời chiến tranh và bao cấp ở nông thôn miền Bắc. Những năm 60 và 70 cực kỳ thiếu thốn, khốn khó với đại đa số dân chúng, nhất là nông dân. Nhưng dù nghèo tới mấy, vẫn phải rướn lên tí chút với cái tết, vừa để đỡ tủi thân, vừa cho con cái được sống vài ngày vui vẻ trong chuỗi dài dằng dặc những lo âu, vất vả.

Quê tôi đồng bằng duyên hải Bắc Bộ, thuần nông, làng thôn ngay chân núi Chè (núi Trà Phương), huyện Kiến Thụy, Hải Phòng. Cả làng chỉ vài ba nhà khá giả, còn lại đều nghèo. Nhà cán bộ xã cũng nghèo. Không phải Tết đến thì nhà nào cũng gói bánh chưng. Suốt tuổi thơ (những năm 60) tôi để ý chỉ nhà nào “có điều kiện” lắm mới gói riêng, còn phần lớn chung nhau, góp đỗ - nếp - thịt, mỗi nhà có vài ba chiếc để bày lên bàn thờ cúng tổ tiên ông bà. Một nồi luộc có khi bánh của 4 - 5 nhà, nếu gói riêng, luộc chung thì đánh dấu bằng nút lạt hoặc đặc điểm gì đó cho khỏi lẫn.

Tôi để ý có những nhà nghèo như nhà cụ Đẹn, nhà ông Hâm điếc, nhà chị Nhỡ… gần như chả bao giờ gói. Ngay cả nhà tôi, bu tôi làm ăn tháo vát, buôn bán giỏi giang thế, nhưng chỉ trước khi vào hợp tác xã mới hay gói, còn sau này năm thì mười họa.

Thời ấy, gạo tẻ đã ít, cơm chẳng đủ no nên nếp lại càng hiếm. Mỗi lần thổi xôi, nấu cơm nếp cúng rằm, chỉ văng ra vài hạt nếp, thày tôi vẫn nhặt lại cho bằng được. Nếp là thứ nguyên liệu chính của bánh chưng. Tiếp nữa là thịt lợn, đỗ xanh, tiêu bắc, muối. Áo của bánh chưng là lá dong hoặc lá chuối. Trong sách lớp 1 có câu đố “Nhà xanh lại đóng đố xanh/Tra đỗ giồng hành thả lợn vào trong”, đố là cái gì, trả lời: cái bánh chưng.

Ở đây cũng cần nói thêm về “đóng đố xanh”, đố chứ không phải đỗ như người ta hay nhầm. Đố là cái vỏ, tấm che đậy phía ngoài. Ta thường nói “giàu nứt đố đổ vách”. Chiếc bánh chưng được gói bằng lá dong xanh, lá chuối xanh. Đóng đố xanh nghĩa là vậy. Trong đời thường, đố cũng để chỉ chiếc khố của người đàn ông. Chàng Thạch Sanh đóng khố hay đóng đố đều nói về một cách ăn mặc, của người trai nghèo.

Thời bây giờ, có khi vừa cúng ông Táo xong là thiên hạ đã lục tục rộn rịp chuẩn bị gói bánh chưng. Trước kia cứ phải đợi sát Tết, trước giao thừa 1 - 2 ngày thôi. Đơn giản là tới lúc ấy mới có thịt. Được hợp tác xã và chính quyền cho phép, vài nhà đụng nhau một con lợn. Nhà nào tự ý giết mổ không phép có thể bị phạt, bị tịch thu thịt. Thường khoảng 29 tết thì mổ lợn, chọn miếng thịt ngon nhất tươi nhất làm giò chả, tiếp nữa để gói bánh, sau đó mới dùng vào việc xào nấu kho.

Bu tôi đã ngâm sẵn gạo nếp tối hôm trước, cả đỗ xanh nữa. Nhà tôi có chiếc cối đá quay tay chuyên để xay đỗ, sát Tết bà con trong làng tới nhờ xay đông nghìn nghịt, đỗ được xay để gói bánh hoặc thổi xôi. Tiêu bắc mua theo bìa mua hàng tết, mỗi nhà được gói nhỏ cỡ ngón tay cái, hơn trăm hột. Cả miền Bắc chỉ mỗi vùng Vĩnh Linh trồng tiêu, thời chiến tranh ác liệt, nơi này là cái túi bom nên hạt tiêu quý như hạt vàng.

Năm nào đụng được thịt lợn (vài nhà chung nhau ngả một con, gọi là đụng) thì bu tôi mới quyết định việc gói bánh chưng. Nhà tôi và nhà bác Ỷ, có năm cùng nhà anh Huy, chung luộc một nồi. Thày tôi, bác Ỷ, anh Huy đều khéo tay gói bánh. Chiếc bánh vuông vức chằn chặn, lạt buộc thật khéo, cái nào cũng như cái nào.

Tụi trẻ con ngồi chầu chực xung quanh, vừa ngắm các đấng bậc thao tác thoăn thoắt khéo léo, vừa thầm cầu gạo đỗ thịt thà dôi ra chút ít để có cái bánh mụi. Anh Huy vốn dạy học, rất tâm lý, thoáng nhìn bọn trẻ con là biết chúng muốn gì, nên thường chừa ra một hai cái bánh mụi cho chúng nó vui. Chiếc bánh mụi ấy giống như lời giao hẹn, rằng chúng bay phải tích cực trông chừng nồi luộc kéo dài cả 8 - 10 tiếng đồng hồ suốt đêm, cứ nước gần cạn thì châm thêm nước, lửa nhỏ thì khơi to lên, cho bánh rền, chín đều.

Thời ấy (những năm 60 - 70 ở miền Bắc) hầu như người nhớn ai cũng biết gói bánh chưng. Chẳng ai dạy ai, chỉ cần để ý xem người khác làm thế nào rồi học lỏm. Bọn trẻ con ngồi chầu hầu coi người lớn gói bánh, dần dà cũng biết phải làm thế nào cho nhân bánh rải đều, bánh vuông vức, lạt buộc sao cho đẹp… Làng tôi rặt nông dân nhưng có những “thợ” gói bánh nổi tiếng, như nghệ nhân bây giờ, thường được những nhà khác thỉnh về gói giúp, như chú Mịch, cậu Thê, bác Ỷ, anh Huy, ông Đính…

Giúp nhau thôi, vui là chính chứ chả công sá gì, làm xong ngồi uống với nhau hớp nước chè bàn chuyện tết nhất, chuyện xóm làng. Về sau, có mấy người sáng kiến gói bánh bằng khuôn, nhanh gọn lắm, nhưng chả hiểu sao tôi vẫn thích những chiếc bánh thủ công từ A tới Z qua bàn tay khéo léo của các nghệ nhân làng. Chúng không chỉ là bánh mà như một tác phẩm nghệ thuật.

Người lớn gói bánh khéo bởi quen tay, còn đám trẻ lại nhờ khuôn. Trong lứa sàn sàn tuổi tôi có anh em Minh, Dinh con chú Mịch rất tháo vát, việc gì cũng biết làm. Cận Tết, tôi thường vào nhà chú Mịch xem anh em nhà này gói bánh chưng bằng khuôn. Cu Sớm em anh Dinh khoe gói "bằng máy" dù đó chỉ là chiếc khuôn gỗ. Họ làm nhanh lắm, thoắt cái đã thành chiếc bánh chưng vuông vức, thậm chí còn đẹp hơn bánh bác Ỷ, anh Huy gói.

Chú Mịch ngoài việc đồng áng của thợ cày chuyên nghiệp còn đóng cối xay cực giỏi nên các con chú được di truyền gien khéo tay. Đồ dùng đan bằng tre bằng dùng (cây dùng thuộc họ tre, thẳng tắp), họ làm được tất tật, thúng, mủng, giần, sàng, nong, nia, lờ, giỏ, nơm, thậm chí cả cái dậm rất khó đan, nhà này tự cung tự cấp hết. (còn kỳ 2)

Ảnh: Hoa đào phai vườn nhà tôi, chụp năm xưa, chứ giờ nó bị cỗi bỏ rồi.

NGUYỄN THÔNG 08.02.2026

 

Aucun commentaire:

Enregistrer un commentaire

Remarque : Seul un membre de ce blog est autorisé à enregistrer un commentaire.