Hôm kia người viết có tham gia buổi thảo luận trên diễn đàn của Nhóm Trao Đổi về tình hình Iran và tương lai của quốc gia này. Buổi thảo luận rất sôi nổi, tích cực. Sáng nay viết thêm vài điểm cùng chủ đề này.
Xung đột Mỹ Iran không phải mới, mà bắt đầu từ năm 1979 khi Cộng Hòa Hồi Giáo Iran (The Islamic Republic of Iran ) vừa được thiết lập và 52 nhân viên tòa đại sứ Mỹ bị bắt giữ làm con tin.
Viết lại theo tác phẩm The Iran Hostage Crisis của R. Conrad Stein. Sáng ngày 4 tháng 11, 1979, một đám đông khoảng 500 người Iran bao vây tòa đại sứ Mỹ tại Iran. Các nhân viên tòa đại sứ bị đánh và bị sỉ nhục trước họng súng của đám đông. Một số bị nhốt trong những chiếc tủ nhỏ và phải sống trong đó nhiều ngày. Phần còn lại bị trói và giam dưới hầm.
Sự thất bại của kế hoạch giải cứu và nỗ lực đàm phán kéo dài đã ảnh hưởng vào cuộc bầu cử tổng thống Mỹ. Cuối cùng, sau khi tổng thống Jimmy Carter đồng ý giải tỏa cho chính phủ Hồi Giáo Iran số tiền 7,9 tỉ Mỹ Kim đã bị chính phủ Mỹ niêm phong sau khi vua Iran Shah bị lật đổ, 52 nhân viên tòa đại sứ Mỹ được trả tự do.
Từ đó đến nay, cường độ xung đột giữa Mỹ và Iran tăng giảm theo nhiệm kỳ của từng tổng thống Mỹ nhưng chưa bao giờ dẫn gần đến điểm căng có nguy cơ bùng nổ chiến tranh như hiện nay với sự hiện diện của USS Abraham Lincoln Carrier Strike Group (CSG-3) trong Trung Đông. Tại vùng Biển Đông chỉ còn có USS George Washington (CVN-73). (Caitlyn Burchett, US Navy Institute, Abraham Lincoln Carrier Strike Group Now in U.S. Central Command, January 26, 2026)
Mặc dù căng thẳng đến mức như vậy, liệu một bùng nổ quân sự giữa hai nước có xảy ra không và nếu có sẽ mang lợi lại cho ai?
Hai trường hợp nghiên cứu (case study) cần thiết cho các nhà kiến trúc chiến lược Mỹ vì cùng phát xuất từ Trung Đông là chiến tranh Afghanistan và chiến tranh Iraq.
Trường hợp nghiên cứu thứ nhất (Case study #1): Chiến tranh Afghanistan
Tổng thống (TT) George W. Bush khẳng định Osama bin Laden chủ mưu vụ tấn công World Trade Center và Pentagon vào ngày 9 tháng 11, 2002. Mỹ đòi Taliban phải giao nộp bin Ladin và đồng bọn al Qaeda, Taliban từ chối.
Ngày 7 tháng 10, 2001 Mỹ và đồng minh tấn công Taliban. Ngày 13 tháng 11, 2001, thủ đô Kabul lọt vào tay Mỹ. Tuy nhiên, lãnh tụ Taliban Mullah Mohammed Omar trốn thoát và bin Laden cũng trốn thoát.
Taliban bị đánh bại nhưng tái tập trung lực lượng tại các vùng nông thôn dựa vào các mối quan hệ bộ tộc. Từ đó Taliban phát động các chiến dịch tuyên truyền hiệu quả chống chính quyền trung ương và khai thác các yếu tố tham nhũng trong các chính quyền Afghanistan do Mỹ dựng nên. Năm 2019, Corruption Perceptions Index xếp Afghanistan là một trong 15 nước tham nhũng nhất thế giới.
Sau gần 20 năm với 2,461 binh sĩ các cấp hy sinh và một kinh phí khổng lồ trên 2.300 tỉ dollar, ngày 30 tháng 8, 2021 Mỹ rút ra khỏi Afghanistan. (The Long-Term Costs of United States Care for Veterans of the Afghanistan and Iraq Wars, Cost of War Project, Brown University)
Sự tranh chấp quyền lực đã qua, chỉ sự chịu đựng của con người là còn lại. Chế độ Hồi Giáo Taliban được tái lập dưới sự lãnh đạo tinh thần của giáo sĩ Hibatullah Akhundzada đặt tại Kandahar và chính phủ do Mohammad Hassan Akhund lãnh đạo. Hiện nay 45 triệu dân Afghanistan tiếp tục chịu đựng chính sách bất nhân tàn bạo của Taliban, nhất là phụ nữ vẫn không được học cao hơn bậc tiểu học.
Theo tường thuật của International Amnesty: “Phụ nữ và trẻ em gái phải đối mặt với tội ác chống lại loài người là phân biệt đối xử dựa trên giới tính và ngày càng bị tước đoạt quyền tự do đi lại và tự do ngôn luận. Việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe vẫn gặp nhiều khó khăn, và giáo dục cho phụ nữ và trẻ em gái ngoài cấp tiểu học vẫn bị cấm.” (Afghanistan 2024, Amnesty International)
Với thực tế chính trị Afghanistan và sự tốn kém cả người lẫn của như vậy, liệu Mỹ có muốn phát động một cuộc chiến tranh tương tự như Afghanistan lần nữa không? Chắc chắn là không.
Trường hợp nghiên cứu thứ hai (Case study #2): Chiến tranh Iraq
Chiến tranh Iraq dưới thời TT George W. Bush là một cuộc chiến dài 8 năm và nhiều tốn kém khác của Mỹ.
Theo tài liệu hiện lưu trữ tại Thư Viện Tổng Thống George W. Bush: “Đến năm 2002, Iraq đã vi phạm thỏa thuận kết thúc Chiến tranh vùng Vịnh từ lâu, trong đó Iraq đã đồng ý cho Liên Hợp Quốc tiến hành kiểm tra vũ khí và tuân thủ các vùng cấm bay. Saddam Hussein đã bất chấp thỏa thuận này bằng cách từ chối cho phép các thanh sát viên vũ khí tiếp cận các căn cứ quân sự và liên tục vi phạm các vùng cấm bay trong khu vực. Cơ quan Tình báo Trung ương (CIA) ban đầu báo cáo với các quan chức chính phủ Hoa Kỳ rằng Iraq đang tích cực tìm cách chế tạo và mua sắm vũ khí hủy diệt hàng loạt.”
Báo cáo này sau đó được xác định là sai nhưng trước đó thì không. Ngày 19 tháng 3, 2003, Mỹ và đồng minh Anh, Úc, Đan Mạch, Hòa Lan, Ba Lan tấn công Iraq.
Saddam Hussein bị bắt ngày 13 tháng 12, 2003 và sau đó bị treo cổ. Cơ Quan Quản Trị Liên Minh Lâm Thời được thành lập như là chính phủ chuyển tiếp đầu tiên trong số nhiều chính phủ kế tiếp. Tuy nhiên chiến tranh Iraq không chấm dứt mà phải trải qua một giai đoạn bạo động giữa các phe phái tôn giáo có võ trang. Ước tính đã có 1.003 vụ ôm bom tự sát làm cho 12,000 người dân Iraq thiệt mạng trong xung đột giữa các phe phái Hồi Giáo tại Iraq. (Chelsea J. Carter, Study: Suicide bomb attacks kill more than 12,000 Iraqis, CNN, Sep 4, 2011)
Nhìn từ góc độ chiến lược, việc tấn công Iraq cũng không hẳn đúng. Iraq là lực đối trọng với Iran tại Trung Đông. Vì lẽ đó năm 1983 chính Donald H. Rumsfeld, với tư cách đặc sứ của TT Ronald Reagan được Saddam Hussein tiếp đón niềm nở. Trong chiến tranh Iran-Iraq, Mỹ đứng về phía Iraq để làm đối lực với Iran cùng khối Hồi Giáo cực đoan quá khích và hợp tác khai thác dầu hỏa với chế độ độc tài này.
Khi bắt tay với Saddam Hussein, Donald H. Rumsfeld đã biết Iraq dùng vũ khí hóa học trong chiến tranh chống Iran và tàn sát thường dân Kurds nhưng làm ngơ. Oái oăm thay, năm 2003, Bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ Donald H. Rumsfeld cũng là người phác họa kế hoạch tấn công Iraq. (National Security Archive, U.S. Documents Show Embrace Of Saddam Hussein In Early 1980s, Despite Chemical Weapons, External Aggression, Human Rights Abuses)
Việc đánh gục Saddam Hussein làm mất đi lực đối trọng và sau đó Iran trở thành một cường quốc Hồi Giáo không đối thủ ở Trung Đông. Iran vừa nuôi dưỡng các tổ chức khủng bố tại Trung Đông, Phi Châu và vừa liên minh với Nga và Trung Cộng.
Về chi phí chiến tranh, cũng theo đề án Costs of War của Brown University, chi phí chiến tranh Iraq lên tới 2.800 tỉ dollar. Gần 5.000 binh sĩ các cấp hy sinh và 30.000 bị thương. Những gì Mỹ gặt hái được, ngoài bắt sống Saddam Hussein, không tương ứng với những hy sinh và tổn phí quá to lớn.
Iraq ngày nay vẫn còn là nơi trú ẩn an toàn của nhiều tổ chức khủng bố như ISIS (Islamic State of Iraq and Syria/ISIL), Kurdistan Workers' Party (PKK), Kataib Hezbollah v.v... Mới đây tổ chức Hezbollah tuyên bố chiến tranh giữa Mỹ và Iran sẽ là cuộc chiến toàn diện và kêu gọi các tổ chức chống Mỹ chuẩn bị chiến tranh. (Iraq’s Kataib Hezbollah warns of ‘total war’ if Iran is attacked, Al Jazeera Staff, 26 Jan 2026)
Với thực tế chính trị Iraq như vậy, liệu Mỹ có muốn phát động một cuộc chiến tranh tương tự như Iraq lần nữa không? Chắc chắc là không.
Nhưng nếu có xảy ra, chiến tranh Mỹ-Iran sẽ có lợi cho ai?
Trả lời ngay là Trung Cộng.
Một sự thật lịch sử mà những ai quan tâm đến địa chính trị và bang giao giữa các quốc gia đều biết Trung Cộng luôn khai thác mọi chính sách của Mỹ để đẩy mạnh kinh tế, quân sự hóa và bành trướng khắp nơi trên thế giới.
Thành thật mà nói, trong thời kỳ đầu TT George W. Bush Mỹ tỏ ra cứng rắn với Trung Cộng. Cụ thể là trong biến cố Hải Nam khi một phi cơ chiến đấu Trung Cộng và phi công của nó là thiếu tá Wang Wei tan xác khi đụng trên không với máy bay thám thính Mỹ bay cách Hải Nam 70 dặm. TT Bush đã từ chối xin lỗi với lý do phi cơ Mỹ bay trên không phận quốc tế chứ không phải của Trung Cộng. Quan điểm của TT Bush cho thấy Mỹ không thừa nhận Biển Đông thuộc về Trung Cộng.
Tuy nhiên, biến cố 11 tháng Chín 2001 đã làm thay đổi toàn bộ chính sách đối ngoại của TT George W. Bush. Ưu tiên hàng đầu của TT George W. Bush là chống khủng bố. Đó cũng là giai đoạn Trung Cộng bành trướng quân sự mạnh nhất từ khi tái lập quan hệ ngoại giao với Mỹ 1979. Dưới đây là vài chính sách lớn của Trung Cộng:
- Tuyên bố chủ quyền trên 90 % Biển Đông. Năm 2009 khi Mỹ còn vướng chân trong cả hai cuộc chiến Trung Đông, Trung Cộng tung ra bản đồ chín đoạn tuyên bố chủ quyền trên 90 % Biển Đông và năm 2013 còn thêm một đoạn nữa có đông Đài Loan trên vùng biển dù không có đảo nào. Trung Cộng còn đi xa hơn khi đòi hỏi tàu chiến của các nước hải hành qua khu vực vùng chín đoạn phải được sự đồng ý của Trung Cộng mặc dù những đảo nhân tạo do Trung Cộng dựng lên không thỏa mãn các định nghĩa quốc tế về chủ quyền lãnh thổ. (|Euan Graham, China’s new map: just another dash?, the Australian Strategic Policy Institute, 17 Sep 2013)
- Quân sự hóa Biển Đông. Trung Cộng tiến hành việc quân sự hóa khu vực rộng 3,6 triệu kilometers, rộng hơn cả Địa Trung Hải tiếp giáp với hải phận Việt Nam và ảnh hưởng một loạt các quốc gia vùng Đông và Nam Châu Á như, Mã Lai, Singapore, Philippines, Brunei, Ấn Độ, Nhật Bản, Nam Hàn, Đài Loan, Nam Dương, Thái Lan, Cambodia, Nepal, Sri Lanka.
- Sáng Kiến Một Vành Đai Một Con Đường (One Belt, One Road Initiative). Mùa thu 2013, tại Kazakhstan, Tập Cận Bình công bố Sáng Kiến Một Vành Đai Một Con Đường (One Belt, One Road Initiative hay thường được gọi tắt là OBOR). Chiến lược Một Vành Đai Một Con Đường của Tập Cận Bình sẽ tập trung vào đường biển với tổng kinh phí đến nay lên đến 1.308 tỉ dollar.
Đề án khổng lồ và đầy tham vọng của Tập có ảnh hưởng đến 68 quốc gia, 4,4 tỉ người và 40 phần tổng sản lượng của nhân loại. Mục đích tối hậu không phải chỉ đơn thuần kinh tế nhưng nhằm phục hồi vị trí của đế quốc Trung Hoa một thời chế ngự Á Châu và lần này chế ngự thế giới. (The Green Finance & Development Center (GFDC) at FISF, Fudan University, China Belt and Road Initiative (BRI) investment report 2025 H1)
Nếu chiến tranh Mỹ và Khối Á Rập thân Iran bùng nổ trên phạm vi lớn, chính sách đối ngoại của Mỹ buộc phải thay đổi như đã từng thay đổi từ thời Jimmy Carter tới George W. Bush và điều đó lại lần nữa có lợi cho Trung Cộng.
Trung Cộng chuyên trục lợi bằng máu xương người nước khác và đang đợi chờ chiến tranh Vịnh Ba Tư bùng nổ, bởi vì chỉ có chiến tranh mới cứu được Trung Cộng qua khỏi khó khăn kinh tế hiện nay và giúp hoàn thành “Trung Hoa Mộng” (Phục hưng sức mạnh Đại Hán và thống trị kinh tế thế giới vào 2049). Trong quan điểm của Tập Cận Bình, Trung Cộng vào dịp kỷ niệm 100 năm thành lập nhà nước cộng sản Trung Quốc sẽ là quốc gia lớn nhất trên thế giới. Hai chữ “cường quốc” được lặp lại nhiều lần trong diễn văn trước đại hội đảng lần thứ 19 của họ Tập.
Tập Cận Bình muốn đạt mục đích bành trướng mà không phải đương đầu với Mỹ. Để thực hiện chủ trương “ngư ông đắc lợi” đó họ Tập tìm mọi cách để tạo liên minh kinh tế, chính trị và quân sự với Nga, Iran và các nước Hồi Giáo, khai thác các xung đột giữa Mỹ và các nước Hồi Giáo trong vùng.
Thuyết Ba Thế Giới của Mao được đem ra áp dụng lần nữa nhưng lần này sự phân cực chỉ còn Trung Cộng và Mỹ. Nga, dù có bom nguyên tử cũng không được xem như một trong ba chân vạc ngang sức. Trung Cộng sẽ lãnh đạo khối chống Mỹ bao gồm khối Hồi Giáo cực đoan, Nga và khối thân Nga, khối độc tài chuyên chính Phi Châu và khối con nợ khắp nơi trên thế giới.
Hiện nay, Hồi Giáo có 2 tỉ người, chiếm khoảng một phần tư dân số thế giới và là một thị trường béo bổ cho hàng hóa rẻ tiền của Trung Cộng và vùng đất mênh mông để Trung Cộng tuyên truyền.
Khác với thời các TT George W. Bush, Barack Obama hay Donald Trump nhiệm kỳ đầu, Iran chưa bao giờ nguy khốn trong vòng vây hơn trên tất cả các lãnh vực từ kinh tế, chính trị cho tới văn hóa, xã hội. Ali Khamenei không còn ngoan cố như mười năm trước. Do đó, dù đe dọa bằng quân sự, đàm phán trong thế mạnh vẫn là một giải pháp có lợi cho hòa bình và ổn định vùng Trung Đông trong đường dài trong đó có sự ổn định của đồng minh Do Thái.
Phân tích để thấy, đối thủ và hiểm họa lớn nhất của Mỹ và thế giới tự do về cả kinh tế, chính trị và an ninh của thế kỷ 21 vẫn là Trung Cộng và bao vây Trung Cộng phải bắt đầu từ Châu Á.
Máu người dân Iran đổ xuống trên đường phố Tehran suốt tháng Giêng 2026 là một sự kiện đáng phẫn nộ. Con số 6.400 người biểu tình bị giết và 51.500 người bị bắt như tổ chức Human Rights Activists News Agency (HRANA) ước tính thật quá đau lòng. Nhưng đồng thời cho thấy các phong trào đấu tranh Iran dù chịu đựng nhiều hy sinh vẫn còn mang tính tự phát.
Các thành phần yêu chuộng tự do, dân chủ Iran cần được tổ chức hóa, phối hợp chặt chẽ và nhận sự công khai ủng hộ từ quốc tế. Hoạt động của các tổ chức xã hội dân sự phải được xem là một trong những điều kiện đàm phán bên cạnh ba điều kiện võ khí nguyên tử, hỏa tiễn liên lục địa và nuôi dưỡng các tổ chức khủng bố. (ABC News, 1 month after Iran regime's deadliest crackdown, the death toll mounts as repression deepens, February 10, 2026, 5:14 AM)
Hai cuộc chiến Afghanistan và Iraq cho thấy bom đạn có thể nhanh chóng đánh sập một chế độ độc tài nhưng không thể xây dựng một nền dân chủ. Cung cấp cho người dân các nước bị trị mặt bằng và phương tiện nhưng căn nhà của một dân tộc phải do chính dân tộc đó dựng lên.
TRẦN TRUNG ĐẠO 11.02.2026






Aucun commentaire:
Enregistrer un commentaire
Remarque : Seul un membre de ce blog est autorisé à enregistrer un commentaire.