Sự luộc bánh là cả mớ kỷ niệm khó quên. Nhà tôi có chiếc nồi đồng khá to, xếp vào đó được chục chiếc. Cái nồi này bu tôi mua lại của một gia đình diện bần-cố nông trong làng được chia quả thực dạo cải cách ruộng đất. Xưa kia, chỉ nhà địa chủ mới dám sắm thứ vật dụng khủng như vậy.
Bánh gói xong, xếp kín trong nồi, đổ nước xâm xấp. Trước đó, anh Uy tôi đã theo chỉ đạo của tư lệnh thày, khệ nệ ra sau nhà bưng ra hơn chục hòn gạch xếp thành ba ông đầu rau ở góc sân.
Suốt đêm lạnh trước thềm xuân, ngồi với nhau quanh bếp lửa đỏ rừng rực luộc bánh chưng, chuyện nọ xọ chuyện kia, ngắm sao trời nhấp nháy, ngửi mùi bánh chín tỏa ra dìu dịu khó cưỡng nổi cơn thèm. Ngắm sao, anh Uy tôi kể cho cả đám nghe chuyện “Những vì sao” của Alphonse Daudet, anh nói hay lắm nhưng trẻ nhãi chúng tôi cứ lắc đầu, lại còn cằn nhằn chả thấy đánh nhau gì cả.
Thường phải luộc từ 8 - 10 tiếng đồng hồ bánh mới rền, không bị sượng, không bị lại gạo. Cạnh nồi luộc bánh bao giờ cũng có bếp phụ đun sẵn nồi nước sôi nữa, “thợ” luộc nhắc nhau trông chừng, thấy nước nồi bánh chỉ còn phân nửa là phải châm tiếp vào. Bu dặn phải bằng nước sôi, chứ đổ nước lã thì bánh sẽ bị lại gạo.
Đứa nào cũng căn giờ vớt bánh mụi, bởi nó nhỏ nên chỉ cần vài tiếng đồng hồ là chín. Vả lại cái bụng thèm bánh chưng đang sôi òng ọc, không thể hoãn nổi. Ngay trong đêm, khi nồi bánh còn chưa chín thì chúng tôi đã xực xong chiếc bánh mụi, ngon không thể tả.
Không phải lúc nào việc luộc bánh cũng trôi chảy. Năm ấy tháng 1.1970, sắp đón Tết Canh Tuất, anh trai đi bộ đội năm ngoái rồi, đã tít trong miền Nam, tôi đang học lớp 8 cấp ba phổ thông, thày bu như thường lệ giao cho chúng tôi trông nồi bánh. Nửa đêm, củi chất vào đáy nồi cháy đùng đùng, tỏa hơi ấm trong cái rét căm căm, mắt thì buồn ngủ díp lại, thế là tôi và anh Sĩ con bác Ỷ lăn ra ổ rơm góc sân làm một giấc. Nồi bánh cạn nước, chả có ai châm thêm, tỏa mùi khét. May bu tôi thức khuya phát hiện, cứu được nồi bánh nhưng hỏng đáy chiếc nồi đồng quý giá.
Sau Tết, thày tôi phải đem nồi hỏng sang tận thôn Du Lễ bên cạnh nhờ chú Giả hàn vá lại, miếng vá to bằng bàn tay xòe. Chú Giả rất thân với thày tôi, khéo tay vá xong, cái nồi quý dùng thêm cả chục năm nữa mà không hề bị rò nước, chỉ hơi xấu xí. Về sau, bu tôi mua chiếc nồi nhôm đại Liên Xô ngoài chợ Sắt thì nồi đồng vá được về hưu, sau này hình như các cháu đem bán cho bà đồng nát.
Bánh luộc xong, thày bu tôi giải phóng bọn trẻ con để mỗi đứa còn chút thời gian ngắn ngủi ngày 30 tết làm việc riêng của mình. Đứa thì gội đầu, đứa ra bờ cừ lấy búi rơm kỳ cọ chùi cái cổ trâu đen sì trên mu bàn chân. Mùa tết xứ bắc đang mùa rét, đụng vào nước ngài ngại là. Rồi nhặt đám quần áo rếch, thày bảo đem giặt hết đi để sang năm mới mọi thứ đều thơm tho.
Thày xếp tất cả bánh đã luộc chín lên chiếc bàn gỗ, lấy một tấm gỗ cứng đặt lên, rồi người nhớn khệ nệ khiêng cái cối đá thường dùng giã rốc dạm cáy đè chặt xuống. Bánh ép như thế cho ra hết nước, mới chặt chẽ khô ráo, không bị nhão, để được lâu. Anh Huy còn bảo, có những người khéo tay gói chặt gói kín, chiếc bánh luộc rồi muốn để lâu đem thả xuống giếng nước lạnh để bảo quản, sau rằm vớt lên vẫn ăn được như thường. Cũng chỉ nghe nói thế chứ nhà tôi có bao giờ bánh chưng ăn tới ngoài mùng 3 tết đâu.
Bánh chưng hiếm hoi, chẳng mấy khi đủ ăn cho đã sự thòm thèm, vậy mà có lần tôi được nếm mùi bánh chưng rán. Lần đầu tiên trong đời. Ngon tuyệt trần. Đã bánh chưng, lại còn rán nữa, làm gì chẳng ngon. Bây giờ kể ra, tụi trẻ chả đứa nào tin bởi chúng ngán bánh chưng tới tận cổ rồi.
Chả là làng tôi có đơn vị bộ đội đóng quân. Năm 1964 họ kéo về. Các chú tinh những thợ mộc, phần lớn người huyện Vĩnh Bảo (huyện này nổi tiếng về nghề mộc), dựng cái xưởng gỗ rõ to ở sân ủy ban cũ, chuyên làm cốp pha, cột, gỗ xẻ thành ván… giao cho đơn vị Trung Quốc sang đục núi Trà Phương thành hầm đặt súng đại bác chĩa ra biển. Cái sự đục núi khoét hầm này kỳ công và bí ẩn lắm. Nhiều người xì xào chả phải hầm hiếc súng siếc đâu, mà là tìm của tìm vàng chi đó. Tuy bộ đội ta cùng làm nhưng lực lượng khoét núi đều do người Trung Quốc đảm nhận.
Nghe đồn họ có sơ đồ tìm châu báu, người thì nói do cha ông họ khi xưa cất giấu, người thì bảo ruột núi Trà Phương có loại quặng cực kỳ quý hiếm. Chỉ biết họ đã đục rỗng ruột núi Trà, tất cả đất đá đào bới ra đều bị chở đi đâu không ai rõ, tinh chở vào ban đêm. Tiếng là làm hầm đặt đại bác nhưng tới tận bây giờ chưa ai được nghe, tận mắt thấy khẩu đại bác nào nổ súng, kể cả hồi tàu chiến Mỹ vào tận biển Đồ Sơn, Quần Mục, Bàng La quấy phá. Điều này tôi đã viết tỉ mỉ về chuyện “Họ đã đục rỗng núi Trà Phương như thế nào” trong một cuốn khác.
Trở lại chuyện bánh chưng rán. Mấy chú bộ đội đóng ở nhà tôi, nhà chú Chung và những nhà quanh gần xưởng gỗ. Bên nhà tôi có chú Ngưỡng, chú A, còn bên chú Chung có chú Đận, chú Quát. Tôi và thằng Trị con chú Chung quý các chú lắm bởi các chú có miếng gì ngon cũng dúi cho. Bộ đội thời ấy tất nhiên thiếu thốn hơn bây giờ nhiều, nhưng so với dân thì các chú vẫn thuộc hạng sung sướng. Hầm núi được làm ròng rã suốt 3 năm, các chú kéo cưa lừa xẻ cung cấp cốp pha, khung gỗ cho đội thợ hầm. Dịp nghỉ tết hoặc sau này khi đã xong việc thì đơn vị kéo nhau về doanh trại đóng ở tuốt vệ đê gần cầu Rào sát nội thành, cách làng tôi gần 2 chục cây số.
Tết năm Bính Ngọ 1966, còn nghỉ học, tôi và thằng Trị kéo nhau ra tận doanh trại chơi với các chú. Đứa 11, đứa 8 tuổi, xe đạp chẳng có, mà nếu có cũng chả đứa nào biết đi, nên liều đi bộ. Ông Uy anh tôi có lần gọi đi bộ là đi xe căng hải, rồi giải thích căng hải là hai cẳng. Mỏi chân nhưng háo hức. Đi từ sáng, gần trưa đến nơi.
Chú Quát, chú Đận phải trực chiến nên không về quê, ra đón ở cổng trại, bảo a, may cho chúng bay, hôm nay các chú đãi chầu bánh chưng rán.
Bộ đội tết nào cũng gói bánh chưng, mỡ chả mấy khi thiếu, rán bánh là chuyện thường, chứ tôi từ bé tới thời điểm lịch sử đó chưa hề được nếm mùi bánh chưng rán. Bánh “nguyên thủy” ăn còn thiếu, mỡ thì hiếm như vàng, ở đó mà đòi bánh rán.
Chú Quát thao tác xong, bê lên đĩa đầy bánh chưng rán thơm phức, chú Đận giục ăn đi, ăn đi. Hai thằng bé nhà quê rời tổ từ sáng sớm, bụng lép kẹp, chân mỏi nhừ, được lời như cởi tấm lòng, ngấu nghiến quên trời quên đất, quên cả hai chú đang ăn lấy lệ. Hai thằng chết đói no phưỡn bụng. Vẫn còn vài miếng, chú Quát gói lại, bảo hai đứa bay cầm về mà ăn đường. Sau này, tôi với thằng Trị mỗi lần gặp nhau lại bồi hồi với đám ký ức bánh chưng rán ven cầu Rào trưa mùng 3 tết năm xa ngái. Không biết các chú bộ đội yêu quý, chú Quát, chú Đận, chú Ngưỡng giờ ở đâu, còn sống thì cũng phải U90 cả rồi.
Năm 1977, tôi vào Sài Gòn nhận việc nhà nước phân công. Khu ký túc xá của trường gồm các thầy cô giáo và một số bộ đội đi học. Giáo viên độc thân chả quan tâm tới bánh biếc. Những năm ấy, “cơm” bo bo triền miên, mơ bánh chưng là giấc mơ xa xỉ. Ấy vậy vẫn có nhà cần mẫn sự gói bánh chưng mỗi dịp tết. Chồng là anh Đinh Duy Chúc, vợ tên Chu Thị Dính, đều dân tộc Tày, Cao Bằng. Anh Chúc giải ngũ, được ưu tiên đi học sư phạm. Sau vài tháng, chắc sốt ruột vụ chờ chồng trẻ học xong, mà lại lo lo nhỡ “nó” quên mất mình, nên chị vợ vào ở luôn với chồng.
Cô Dính cực kỳ tháo vát, giỏi giang, lại khéo tay. Vào Sài Gòn một thời gian ngắn, cô nhập cuộc được ngay, sắm cái tủ thuốc lá, rồi nấu xôi bán cho sinh viên ăn sáng, rồi nâng cấp thành tủ bánh mì thịt, rồi đủ thứ phục vụ cho đám thầy cô giáo và sinh viên đang đói vàng mắt. Một mình cô Dính nuôi cả nhà. Đàn con lần lượt ra đời, cô lo tất, chồng chỉ mỗn nhiệm vụ học và làm người nhà nước.
Cứ sát tết, vợ chồng cô lại rộn rịp gói bánh chưng. Bắc bếp dưới góc sân ký túc xá, mượn cái nồi nhôm to của nhà ăn tập thể, khói lửa ngút trời, vui phết. Có lần anh Chúc hé lộ bí mật, bảo tôi, thầy ạ, thầy có biết khó nhất trong chuyện gói bánh chưng là gì không. Tôi chịu, mình có gói đâu mà biết. Anh Chúc thì thào, là củi. Hóa ra, để đủ củi nấu suốt đêm, ông người Tày này đã thầm lặng đầu cơ tích trữ củi cả tháng trời, chất đầy mép hành lang nhà tập thể. Có lần bánh chưa chín nhưng hết củi, Chúc ta còn phải hy sinh chiếc giát giường.
Nghe lão ấy thổ lộ, tôi sực nhớ, cái lần nhà trường tổ chức cho cán bộ, giáo viên, nhân viên đi tham quan chiêm ngưỡng công trình thế kỷ nhà máy thủy điện Trị An, cả đoàn chẳng ai chịu dành thời gian ngắm nhìn gì, chỉ quan tâm đi mua củi, lúc về chất đầy xe tải Reo do ông Thi già lái. Thầy Long lý còn khuân hẳn những khúc rõ to nửa vòng tay ôm, về tới nơi khệ nệ bế lên tận lầu 4 (tức tầng 5), lâu lâu lại chẻ củi thình thình. Đó là thứ âm thanh không thể quên được của cuộc sống khốn khó thời bao cấp sau năm 1975.
Chúc các bác, anh chị, bạn bè cùng gia đình đón xuân tươi, năm mới vui vẻ, an lành.
NGUYỄN THÔNG 09.02.2026

Aucun commentaire:
Enregistrer un commentaire
Remarque : Seul un membre de ce blog est autorisé à enregistrer un commentaire.