Đọc bài “Vì sao Nguyễn Hải Thần cuối cùng lại chọn lưu vong?” đăng trên page Lật Mở Hồ Sơ Mật, được rất nhiều người nhấn like và chia sẻ, tôi không mấy ngạc nhiên. Tôi đã quá quen với lối viết sử mang nặng tính tuyên truyền “ta thắng, địch thua” của nhà nước cộng sản xưa nay.
Trong đó những sự kiện có lợi cho phía chiến thắng được nhấn mạnh, những chứng cứ bất lợi bị lược bỏ, còn các nhân vật thất thế thường bị phán xét theo những kết luận chính trị “chính thống”. Bài viết không ký tên này cũng đi theo lối ấy, dù tác giả tỏ ra khá công phu trong việc viện dẫn hồ sơ mật thám Pháp.
Từ vụ ám sát Toàn quyền Martial Merlin ở Quảng Châu năm 1924 đến những tài liệu ghi nhận sự cộng tác giữa Nguyễn Hải Thần và Nguyễn Ái Quốc trong hoạt động báo chí cách mạng. Những hồ sơ được viện dẫn dễ tạo cho người đọc cảm giác đây là một bài khảo cứu dựa trên những sử liệu mới được phát hiện. Tuy nhiên, cách tác giả lựa chọn và diễn giải các sự kiện khiến tôi nghi ngờ rằng kết luận đã được định sẵn từ trước.
Theo cách trình bày ấy, Nguyễn Hải Thần dựa vào Tưởng Giới Thạch để tranh giành quyền lực với Việt Minh, mất chỗ dựa khi quân Trung Hoa Dân Quốc rút khỏi Việt Nam và phải sống lưu vong như một cái giá tất yếu cho những sai lầm chính trị. Từ kết cục ấy, tác giả phán xét cả cuộc đời Nguyễn Hải Thần, bất chấp những biến động lịch sử và cuộc tranh chấp giữa các phe phái đã góp phần dẫn đến sự thất thế của ông.
Nói khá ky về sự thất thế của Nguyễn Hải Thần, nhưng gần như tác giả bỏ qua những sự kiện đã xảy ra với Chính phủ Liên hiệp và các đảng phái quốc gia trong năm 1946. Ai đã phá vỡ những thỏa thuận chính trị cuối năm 1945? Các lực lượng đối lập bị loại khỏi chính quyền trong hoàn cảnh nào? Những cuộc trấn áp Việt Quốc, Việt Cách sau khi quân Trung Hoa Dân quốc rút đi đã diễn ra ra sao?
Những sự kiện ấy đều được ghi nhận trong tài liệu ngoại giao đương thời và các công trình nghiên cứu sử học. Nhưng đọc bài này, người ta có cảm giác Nguyễn Hải Thần tự đánh mất quyền lực, tự đẩy mình ra khỏi đời sống chính trị, rồi tự chuốc lấy số phận lưu vong. Cách giải thích ấy thô thiển, thậm chí ngây ngô, bởi toàn bộ trách nhiệm về sự tan rã của Chính phủ Liên hiệp dường như được đẩy sang phía thất bại, còn những người giành được quyền lực thì nghiễm nhiên vô can.
Tôi không ủng hộ lập trường chính trị của Nguyễn Hải Thần. Ông có thể đã tính toán sai lầm, quá tin vào sự hậu thuẫn của thế lực ngoại bang Tưởng Giới Thạch, hoặc không lường hết những biến chuyển của tình hình Việt Nam sau tháng Tám năm 1945. Những sai lầm ấy cần được đánh giá qua hành động và hoàn cảnh cụ thể của ông. Nhưng sự thất bại trên chính trường không đủ để kết luận về tư cách hay động cơ của một chính khách như ông, càng không thể lấy kết quả của cuộc chiến tranh giành quyền lực diễn ra dữ dội sau ngày ra đời nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa làm thước đo xét đoán người yêu nước hay kẻ phản bội.
Để minh định vì sao Nguyễn Hải Thần phải lưu vong, phải xem xét tất cả những gì đã xảy ra với các lực lượng chính trị từng tham gia Chính phủ Liên hiệp. Nếu chỉ chăm chăm soi xét lỗi bên thua, còn mọi hành động của bên thắng đều được giải thích bằng những lý do chính đáng, thì lịch sử đã bị bóp méo theo cách nhìn của người chiến thắng.
1. Nếu dựa vào ngoại bang là một tội lỗi chính trị, tiêu chuẩn ấy phải được áp dụng cho tất cả các bên, không thể có tiêu chuẩn kép
Nguyễn Hải Thần có quan hệ mật thiết với Trung Hoa Quốc dân đảng, được giới quân sự Trung Hoa Dân quốc hậu thuẫn và dựa vào ảnh hưởng của họ để củng cố vị thế chính trị khi trở về Việt Nam sau tháng Tám năm 1945. Những sự kiện ấy đều có căn cứ lịch sử, nhưng không đủ để kết luận ông đã đánh mất tư cách của một nhà cách mạng dân tộc. Một kết luận nghiêm trọng như vậy đòi hỏi phải có chứng cứ xác đáng về những cam kết, nhượng bộ hoặc hành động cụ thể của Nguyễn Hải Thần gây phương hại đến quyền lợi Việt Nam để phục vụ lợi ích của Trung Hoa Dân quốc.
Thế nhưng, những tài liệu mà tác giả viện dẫn không chứng minh được điều đó, càng không có đủ căn cứ để quy kết Nguyễn Hải Thần đã phản bội đất nước. Nên nhớ rằng trong nửa đầu thế kỷ 20, nhiều tổ chức cách mạng Việt Nam đã tìm kiếm sự giúp đỡ từ nước ngoài để duy trì hoạt động chống thực dân Pháp, từ nơi trú chân, kinh phí đến vũ khí và sự ủng hộ chính trị. Quan hệ với các thế lực bên ngoài phải được xem xét trong hoàn cảnh lịch sử và mục đích hoạt động của từng tổ chức. Sự hậu thuẫn của ngoại bang có thể tạo ra những ràng buộc, thậm chí dẫn đến lệ thuộc, nhưng mức độ lệ thuộc ấy phải được xác định qua những gì người nhận viện trợ đã cam kết và thực hiện.
Ngày 28-02-1946, đúng ngày Trung Hoa Dân quốc ký thỏa thuận với Pháp về việc rút quân khỏi Đông Dương, Hồ Chí Minh gửi công điện cho tổng thống Hoa Kỳ Harry Truman, khẩn thiết “đề nghị tổng thống và nhân dân Hoa Kỳ can thiệp để ủng hộ nền độc lập Việt Nam”, ngăn chặn nguy cơ Pháp tiến hành hành động quân sự tại Hà Nội. Bản công điện hiện được lưu giữ tại Văn khố quốc gia Hoa Kỳ, thuộc hồ sơ của Office of Strategic Services (OSS), số định danh 305263. Trước đó, ngày 18-1-1946, Hồ Chí Minh cũng gửi thư cho Truman đề nghị Hoa Kỳ giúp Việt Nam giành độc lập. Trong tháng 2-1946, ông tiếp tục tìm kiếm sự can thiệp của các cường quốc và Liên Hợp Quốc. Những sự kiện này được ghi nhận trong bộ hồ sơ ngoại giao Hoa Kỳ Foreign Relations of the United States.
Những công điện ấy cho thấy rõ Hồ Chí Minh đã tích cực tìm kiếm sự hậu thuẫn quốc tế nhằm bảo vệ nền độc lập và vị thế của chính phủ mình. Tôi cho rằng đó là một lựa chọn ngoại giao có thể hiểu được trong hoàn cảnh đương thời. Dĩ nhiên, quan hệ với Hoa Kỳ và quan hệ với Trung Hoa Dân quốc có những điều kiện rất khác nhau. Yêu cầu can thiệp ngoại giao khác với việc nhận hậu thuẫn quân sự để tranh giành quyền lực.
Điều tôi muốn nói ở đây là sự thiếu nhất quán trong cách đánh giá lịch sử. Tại sao quan hệ của Nguyễn Hải Thần với Trung Hoa Dân quốc lại bị dùng để phủ nhận tư cách yêu nước của ông, trong khi việc Hồ Chí Minh tìm kiếm sự giúp đỡ của Mỹ năm 1946, rồi quan hệ của chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với Liên Xô và Trung Cộng từ năm 1950, lại thường được giải thích như những sách lược cần thiết? Những quan hệ ấy khác nhau về hoàn cảnh, tính chất và mức độ ràng buộc, nhưng đã đánh giá bằng tiêu chuẩn độc lập dân tộc thì phải áp dụng tiêu chuẩn ấy cho tất cả các bên.
2. Nguyễn Hải Thần có tư cách lãnh đạo Chính phủ Liên hiệp của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được Quốc hội thừa nhận
Tác giả cho rằng Nguyễn Hải Thần được Hồ Chí Minh “bao dung đặt vào chiếc ghế phó chủ tịch Chính phủ”. Tôi cho rằng cách diễn đạt này rất có vấn đề, vì nó biến một thỏa thuận chính trị giữa các tổ chức thành chuyện một cá nhân rộng lượng ban phát quyền lực cho người khác.
Chính phủ Liên hiệp lâm thời ra mắt ngày 01-01-1946 là kết quả của những cuộc thương lượng giữa Việt Minh, Việt Cách và Việt Quốc giữa lúc tình hình chính trị, quân sự hết sức phức tạp. Các bên đạt được thỏa thuận ngày 24-12-1945, trong đó có việc tổ chức tổng tuyển cử và dành 70 ghế Quốc hội cho Việt Quốc, Việt Cách. Ngày 02-03-1946, Quốc hội khóa I thông qua quyết định công nhận Chính phủ Liên hiệp kháng chiến. Văn kiện ghi rõ:
“Quyết định truy nhận Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Phó Chủ tịch Nguyễn Hải Thần lập ra và Quốc hội trao quyền bính cho Chính phủ ấy.”
Đây là một văn kiện chính thức của Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, được ban hành ngày 02-03-1946, hiện vẫn có thể tra cứu công khai. Chức vụ phó chủ tịch Chính phủ của Nguyễn Hải Thần vì thế có địa vị pháp lý được Quốc hội thừa nhận. Ông tham gia một chính phủ liên hiệp với trách nhiệm thực hiện sự thống nhất các lực lượng quốc dân trong công cuộc kháng chiến và kiến quốc.
Việc trao 70 ghế Quốc hội không qua bầu cử cho các tổ chức quốc gia dĩ nhiên đặt ra những vấn đề về tính đại diện dân chủ. Nhưng đó là thỏa thuận mà chính quyền đương thời đã chấp nhận để giải quyết cuộc khủng hoảng chính trị. Một khi Chính phủ Liên hiệp đã được Quốc hội công nhận, địa vị của những người tham gia chính phủ ấy cũng phải được nhìn nhận theo các văn kiện pháp lý tương ứng.
Người ta có thể phê phán Nguyễn Hải Thần về năng lực điều hành, lập trường chính trị hoặc hoạt động của Việt Cách, nhưng bảo rằng chức vụ của ông là chiếc ghế do Hồ Chí Minh “rộng lượng ban cho” thì đã làm sai lệch tính chất của sự liên hiệp. Nếu quyền lực của Nguyễn Hải Thần chỉ là thứ quyền lực vay mượn như tác giả khẳng định, thì phải chăng chính thỏa thuận thành lập Chính phủ Liên hiệp và nghị quyết của Quốc hội năm 1946 cũng chỉ là những thủ tục giả dối để phục vụ cho một sự sắp đặt và thâu tóm quyền lực? Tôi e rằng tác giả chưa nghĩ đến hệ quả của lập luận ấy.
3. Ai thực sự được hưởng lợi từ Hiệp định Sơ bộ ngày 6 tháng Ba?
Bài viết cho rằng khi quân Tưởng rút khỏi Việt Nam, Nguyễn Hải Thần mất chỗ dựa, và sự nghiệp chính trị sụp đổ. Điều đó đúng ở một khía cạnh, nhưng tác giả đã bỏ qua tác động của việc quân Trung Hoa Dân quốc rút khỏi miền Bắc đối với tương quan quyền lực giữa các đảng phái chính trị.
Ngày 28-02-1946, Pháp và Trung Hoa Dân quốc kí thỏa thuận về việc quân Trung Quốc rút khỏi miền Bắc Đông Dương. Đổi lại, Pháp phải chấp nhận một số điều kiện liên quan đến quyền lợi của Trung Quốc, trong đó có việc từ bỏ những đặc quyền và nhượng địa trước đây. Ngày 06-03-1946, Hồ Chí Minh và Jean Sainteny ký Hiệp định Sơ bộ, theo đó Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chấp nhận cho 15.000 quân Pháp tiến ra miền Bắc thay thế quân Trung Hoa Dân quốc.
Cần nhớ rằng quân Pháp đã tiến hành tái chiếm Nam Bộ từ tháng 9-1945. Vì thế, chấp nhận cho quân Pháp trở lại miền Bắc là một sự nhượng bộ rất lớn. Lãnh đạo Việt Minh lựa chọn giải pháp này nhằm tránh một cuộc đối đầu quân sự tức thời, đồng thời tìm kiếm sự công nhận đối với chính quyền mới. Sử gia Stein Tonnesson, trong công trình Vietnam 1946: How the War Began, đã phân tích khá chi tiết những tính toán ngoại giao của Pháp, Trung Hoa Dân quốc và Việt Nam trong quá trình dẫn đến hiệp định.
Một chi tiết đáng chú ý là Vũ Hồng Khanh, lãnh tụ Việt Nam Quốc dân đảng, cũng ký Hiệp định Sơ bộ cùng Hồ Chí Minh và Jean Sainteny. Ngay trong các lực lượng quốc gia được Trung Hoa Dân quốc hậu thuẫn, việc lựa chọn đường lối chính trị vẫn chịu ảnh hưởng của những cuộc thương lượng và áp lực ngoại giao đương thời.
Sau khi quân Trung Hoa Dân quốc rút đi, Việt Minh thoát khỏi sức ép của một lực lượng quân sự nước ngoài đang hiện diện tại miền Bắc, trong khi Việt Quốc và Việt Cách mất đi nguồn hậu thuẫn quan trọng giúp họ duy trì ảnh hưởng chính trị. Tài liệu do Trung tâm Lưu trữ quốc gia I công bố về Hiệp định Sơ bộ cũng ghi nhận rằng thời gian hòa hoãn sau hiệp định đã tạo điều kiện cho chính quyền cách mạng củng cố lực lượng, đồng thời đối phó với Pháp và các đảng phái đối lập.
Như vậy, việc quân Trung Hoa Dân quốc rút khỏi Việt Nam đã tạo thuận lợi đáng kể cho Việt Minh trong cuộc tranh giành quyền lực. Sự hiện diện của quân đội Trung Quốc trước đó là một yếu tố mà Việt Minh buộc phải tính đến khi thương lượng với Việt Quốc, Việt Cách. Một khi lực lượng này rút đi, tương quan chính trị thay đổi hẳn: Các đảng phái quốc gia mất đi sự bảo trợ quân sự, còn Việt Minh có điều kiện củng cố quyền kiểm soát bộ máy chính quyền và sử dụng ưu thế ấy để đối phó với các đối thủ. Những cuộc trấn áp các tổ chức quốc gia trong các tháng tiếp theo của năm 1946 cho thấy sự tan rã của Chính phủ Liên hiệp còn gắn liền với quá trình tập trung quyền lực và loại bỏ các lực lượng đối lập.
Vậy mà tác giả chỉ chăm chăm giải thích rằng Nguyễn Hải Thần mất chỗ dựa nên bỏ trốn, như thể mọi chuyện đơn giản chỉ có vậy. Tôi cho rằng đây là lối giải thích lấp liếm, sơ sài, mang nặng tính tuyên truyền nhồi sọ, bởi nó cố tình bỏ qua một vấn đề đặc biệt quan trọng: Những người đã giành được ưu thế chính trị sau khi quân Trung Hoa Dân quốc rút đi đã sử dụng quyền lực ấy như thế nào? Khi một chính phủ được thành lập trên cơ sở thỏa thuận liên hiệp, rồi những tổ chức tham gia thỏa thuận lần lượt bị trấn áp và loại khỏi chính trường, thì trách nhiệm về sự đổ vỡ ấy phải được xem xét từ cả hai phía. Không thể cứ quy hết cho những sai lầm của phe thất thế, rồi mặc nhiên xem mọi hành động của phía nắm quyền là cần thiết và chính đáng.
4. Những cuộc trấn áp bị gạt khỏi lịch sử năm 1946
Đây là vấn đề mà tác giả gần như im lặng, mặc dù đã có những tài liệu lịch sử đáng tin cậy ghi nhận khá rõ.
Ngày 20-5-1946, phó lãnh sự Hoa Kỳ tại Hà Nội, O’Sullivan, gửi công điện về Bộ Ngoại giao Hoa Kì, xác nhận Việt Cách và Việt Quốc được Trung Hoa Dân quốc hậu thuẫn và kiểm soát một số địa bàn ở miền Bắc, trong đó có Móng Cái, Lạng Sơn và khu vực Vĩnh Yên. Trong công điện ngày 26-07-1946, O’Sullivan tiếp tục ghi nhận quá trình loại bỏ có hệ thống các lực lượng đối lập với Việt Minh, đồng thời cho biết ảnh hưởng của Việt Cách và Việt Quốc đã suy giảm sau khi Sư đoàn 52 của quân đội Trung Hoa Dân quốc rút khỏi Bắc Kỳ. Những ghi nhận này hiện được lưu giữ trong bộ Foreign Relations of the United States, 1946, tập VIII, do Bộ Ngoại giao Hoa Kì công bố.
Sử gia Christopher Goscha cũng đề cập các hoạt động trấn áp những tổ chức quốc gia đối lập trong năm 1946. David G. Marr, trong công trình “Vietnam: State, War, and Revolution (1945-1946)”, dành riêng một chương để nghiên cứu việc chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa xử lý các lực lượng đối lập, từ hoạt động của bộ máy an ninh, các cơ quan tư pháp đến những cuộc xung đột chính trị trong quá trình xây dựng nhà nước mới. Qua những nghiên cứu này, có thể thấy rõ cuộc tranh chấp giữa Việt Minh và các đảng phái quốc gia đã diễn ra hết sức gay gắt với những cuộc đấu tranh tuyên truyền, tổ chức lực lượng và cả những hoạt động quân sự, an ninh.
Tôi cũng muốn phân biệt rõ về trình tự thời gian. Những cuộc trấn áp lớn giữa năm 1946 diễn ra sau thời điểm Nguyễn Hải Thần được cho là đã rời Hà Nội. Do đó, không thể lấy những sự kiện xảy ra về sau để giải thích trực tiếp cho quyết định ra đi của ông trước đó. Trước hết phải xác định chính xác Nguyễn Hải Thần đã rời Hà Nội vào ngày nào và trong hoàn cảnh nào, điều mà bài viết đang bàn đến không chứng minh được.
Tuy nhiên, những tài liệu vừa dẫn xác nhận một thực tế: sự suy yếu của Việt Cách và Việt Quốc diễn ra trong quá trình Việt Minh củng cố quyền lực, đồng thời tiến hành trấn áp các tổ chức đối lập. Sự rút lui của quân Trung Hoa Dân quốc đã làm thay đổi tương quan lực lượng, còn những cuộc trấn áp tiếp theo khiến các tổ chức quốc gia mất dần khả năng hoạt động công khai tại nhiều địa bàn miền Bắc.
Đó là một phần quan trọng trong lịch sử chính trị Việt Nam năm 1946, liên quan trực tiếp đến sự đổ vỡ của Chính phủ Liên hiệp và số phận của nhiều chính khách quốc gia. Người viết có thể phê phán những hoạt động chống chính phủ của Việt Cách và Việt Quốc, nhưng cũng phải xem xét những biện pháp mà phía nắm chính quyền đã sử dụng để đối phó với các tổ chức ấy. Nếu chỉ kể lại sự thất bại của Việt Quốc, Việt Cách, rồi lấy chính thất bại đó làm bằng chứng cho những sai lầm của họ, trong khi bỏ qua hoạt động trấn áp của phía Việt Minh, thì rõ ràng tác giả đã cố tình chọn lọc sự kiện có lợi để phục vụ cho kết luận của mình. Khôn như thế là khôn vặt.
5. Nguyễn Hải Thần và sự quy kết từ một chính thể chưa ra đời
Phần cuối bài viết cho rằng Nguyễn Hải Thần sang Hương Cảng năm 1947, tham gia phong trào ủng hộ Bảo Đại, và từ đó đứng chung hàng ngũ với một chính phủ do Pháp dựng lên. Tôi nghĩ tác giả đã nhầm lẫn cả về niên đại lẫn hoàn cảnh chính trị.
Chính thể Quốc gia Việt Nam dưới quyền Bảo Đại được thành lập năm 1949, sau Hiệp định Élysée ngày 08-03-1949. Còn năm 1947, các chính khách quốc gia đang vận động tìm kiếm một giải pháp chính trị khác cho Việt Nam thông qua Bảo Đại và những cuộc thương lượng với Pháp. Tháng 9-1947, Nguyễn Hải Thần tham gia các cuộc hội họp tại Hương Cảng nhằm tập hợp những lực lượng quốc gia ủng hộ Bảo Đại đứng ra thương lượng. Ngay trong số những người tham gia cũng có những bất đồng về mức độ nhượng bộ có thể chấp nhận và những điều kiện cần thiết để bảo đảm nền độc lập của Việt Nam.
Dĩ nhiên, việc các chính khách Việt Nam thương lượng với Pháp sau khi chiến tranh bùng nổ là một quyết định chính trị cần được nghiên cứu và đánh giá nghiêm túc. Nhưng nếu muốn xác định Nguyễn Hải Thần đã chủ trương những gì vào năm 1947, phải căn cứ vào các tuyên bố, hoạt động và thỏa thuận của ông trong thời gian ấy. Kết quả của những cuộc thương lượng sau này có thể giúp đánh giá hậu quả của lựa chọn ban đầu, nhưng không đủ để suy đoán toàn bộ động cơ của người tham gia từ trước.
Còn một chi tiết lịch sử mà tôi nghĩ tác giả cố tình bỏ qua. Ngày 02-03-1946, chính Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã công nhận Quốc gia Cố vấn đoàn, với cựu hoàng Bảo Đại, khi ấy mang tên Vĩnh Thụy, giữ chức cố vấn tối cao và làm đoàn trưởng. Trước đó, từ tháng 9-1945, Bảo Đại đã được Hồ Chí Minh mời tham gia chính quyền mới sau khi thoái vị. Như vậy, Bảo Đại từng có địa vị chính thức trong bộ máy nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, được cả người đứng đầu chính phủ lẫn Quốc hội thừa nhận.
Sự hiện diện của ông khi ấy còn mang một ý nghĩa chính trị rõ ràng: Chính quyền mới muốn tranh thủ uy tín của cựu hoàng để tập hợp những lực lượng có xuất thân, quan điểm và khuynh hướng chính trị khác nhau. Vậy thì phải giải thích thế nào về việc chỉ hơn một năm sau, khi Nguyễn Hải Thần cùng một số chính khách quốc gia tham gia vận động chính trị tại Hương Cảng, sự ủng hộ dành cho Bảo Đại lại bị tác giả xem như bằng chứng cho thấy họ đã đứng về phía thực dân Pháp?
Tôi muốn nhấn mạnh rằng phải phân biệt ba giai đoạn với ba hoàn cảnh chính trị và ba địa vị khác nhau của Bảo Đại. Năm 1946, ông là cố vấn tối cao của chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, một nhân vật được Hồ Chí Minh sử dụng trong chủ trương tập hợp các lực lượng quốc dân. Năm 1947, tại Hương Cảng, Bảo Đại trở thành nhân vật được một số chính khách quốc gia kỳ vọng có thể đứng ra thương lượng với Pháp để tìm kiếm một giải pháp cho nền độc lập và thống nhất Việt Nam, giữa lúc chiến tranh đã bùng nổ và Chính phủ Liên hiệp không còn tồn tại trên thực tế. Đến năm 1949, sau Hiệp định Élysée, ông mới đứng đầu chính thể Quốc gia Việt Nam, được thành lập trong khuôn khổ Liên hiệp Pháp, với những giới hạn đáng kể về chủ quyền.
Ba giai đoạn ấy có liên hệ với nhau, nhưng mục tiêu chính trị, điều kiện thương lượng và địa vị pháp lý của Bảo Đại đã thay đổi rất nhiều. Sự tham gia của Nguyễn Hải Thần vào những cuộc vận động tại Hương Cảng năm 1947 cần được đánh giá qua lập trường và những hoạt động cụ thể của ông vào thời điểm đó, kể cả thái độ đối với các điều kiện do Pháp đưa ra. Lấy sự ra đời của Quốc gia Việt Nam năm 1949 để kết tội những chính khách đã ủng hộ giải pháp Bảo Đại tại Hương Cảng năm 1947 là một cách suy diễn lịch sử tùy tiện. Khi ấy, chính thể này chưa ra đời, còn những cuộc thương lượng với Pháp đang diễn ra với nhiều bất đồng về điều kiện công nhận nền độc lập và thống nhất Việt Nam.
Thế nhưng, tác giả đã gán cho những người tham gia vận động chính trị năm 1947 trách nhiệm về những gì xảy ra hai năm sau, trong khi không đưa ra được bằng chứng cụ thể nào cho thấy Nguyễn Hải Thần đã chấp nhận những điều kiện phương hại đến nền độc lập dân tộc. Trớ trêu hơn, chính Bảo Đại, nhân vật mà tác giả vin vào để kết tội Nguyễn Hải Thần, từng được Hồ Chí Minh mời tham gia chính quyền và được Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa công nhận giữ một chức vụ chính thức. Vai trò chính trị của Bảo Đại đã thay đổi qua từng giai đoạn, và những người ủng hộ ông cũng có những chủ trương, tính toán riêng. Bỏ qua các yếu tố ấy để quy kết Nguyễn Hải Thần phản bội lí tưởng độc lập dân tộc chỉ vì ông tham gia phong trào ủng hộ Bảo Đại năm 1947 là một phán quyết thiếu căn cứ lịch sử.
6. Nguyễn Hải Thần đã “chọn lưu vong”, hay bị đẩy ra khỏi đời sống chính trị?
Tôi muốn trở lại câu hỏi ngay trong nhan đề bài viết. Nguyễn Hải Thần đã rời Việt Nam, sống những năm cuối đời ở Trung Quốc và qua đời tại đó năm 1959. Đó là những sự kiện có thể xác định. Nhưng tác giả lại mô tả ông như một người hoảng loạn vì mất chỗ dựa, biết trước quyền lực của mình sắp sụp đổ nên bí mật bỏ trốn. Những lời quy kết về tâm lý và động cơ ấy đã không hề được chứng minh bằng sử liệu.
Tác giả khẳng định Nguyễn Hải Thần đã rời Hà Nội trước ngày 02-30-1946, trong khi tài liệu về phiên họp Quốc hội hôm ấy chỉ xác nhận ông vắng mặt với lý do sức khỏe. Sự vắng mặt tại Quốc hội không đủ để kết luận ông đã xuất cảnh. Muốn xác định thời điểm ra đi và nguyên nhân trực tiếp, cần có thêm thư từ, báo cáo ngoại giao, hồ sơ an ninh hoặc những ghi chép đương thời đáng tin cậy. Trong hoàn cảnh một chính phủ liên hiệp đang đứng trước nguy cơ tan rã, các đảng phái tranh giành quyền lực và quân Trung Hoa Dân quốc chuẩn bị rút khỏi miền Bắc, quyết định ra đi của một lãnh tụ chính trị có thể xuất phát từ nhiều tính toán khác nhau, kể cả nguy cơ bị bắt giữ hoặc mất khả năng tiếp tục hoạt động.
Khi không xác định được những điều ấy, lấy sự lưu vong làm bằng chứng cho sự lệ thuộc ngoại bang là một kết luận vội vàng. Nguyễn Hải Thần có thể đã mắc những sai lầm nghiêm trọng trong việc lựa chọn đồng minh, tổ chức lực lượng và đánh giá tình hình chính trị. Nhưng ông cũng là người đã tham gia phong trào chống thực dân Pháp từ nhiều thập niên trước, từng hoạt động cách mạng tại Trung Quốc, từng cộng tác với Nguyễn Ái Quốc một thời gian, và sau này giữ chức phó chủ tịch Chính phủ Liên hiệp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Những hoạt động đó thuộc về lịch sử Việt Nam và phải được ghi nhận đầy đủ.
Một chính khách bị loại khỏi đời sống chính trị, phải sống lưu vong và cuối cùng chết ở nước ngoài có thể đã thất bại vì chính những sai lầm của mình. Nhưng cũng phải xét đến hoàn cảnh và những biện pháp mà các đối thủ sử dụng trong cuộc tranh giành quyền lực. Với Nguyễn Hải Thần, những câu hỏi ấy càng phải được làm sáng tỏ trước khi đưa ra một lời kết tội có tính bao trùm lên cuộc đời ông.
7. Thay lời kết
Tôi không có lý do gì để bênh vực những sai lầm chính trị của Nguyễn Hải Thần, nếu chúng được chứng minh bằng sử liệu xác thực. Quan hệ giữa Việt Cách với Trung Hoa Dân quốc, những hoạt động chống chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và lập trường của ông sau năm 1946 đều có thể được xem xét, phê phán. Nhưng cuộc tranh chấp quyền lực tại Việt Nam trong những năm 1945-1946 có sự tham gia của nhiều tổ chức chính trị, dưới sức ép và sự can dự của các thế lực nước ngoài.
Chính phủ Liên hiệp ra đời từ những thỏa thuận giữa các lực lượng ấy, rồi tan rã khi những bất đồng chính trị ngày càng gay gắt đến mức không còn triển vọng hòa giải. Trách nhiệm về sự đổ vỡ này phải được xác định qua những quyết định và hành động của từng phía. Quy hết nguyên nhân cho những sai lầm của Nguyễn Hải Thần, như tác giả đã làm, là một cách giải thích giản đơn đến mức khó chấp nhận về mặt sử học.
Điều đáng phê phán hơn cả là cách tác giả chọn lọc và diễn giải sử liệu. Những sai lầm của Nguyễn Hải Thần được kể khá tỉ mỉ, sự nhân nhượng của Hồ Chí Minh được hết lời ca ngợi, trong khi những cuộc trấn áp Việt Quốc, Việt Cách và quá trình loại bỏ các lực lượng đối lập khỏi chính trường lại gần như biến mất khỏi lịch sử. Sau năm 1946, nhiều tổ chức quốc gia bị đánh tan, các lãnh tụ phải bỏ ra nước ngoài, còn Việt Minh tiếp tục nắm quyền lãnh đạo chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó là những diễn biến lịch sử có thật, nhưng tác giả chỉ quan tâm đến sự thất bại của phe quốc gia mà tuyệt nhiên không đả động đến những biện pháp chính trị, quân sự và an ninh mà phía cầm quyền đã sử dụng để đối phó với họ.
Rõ ràng đây một biểu hiện của lối viết sử đảng Cộng sản, khi lịch sử chỉ cần được nhìn qua lập trường của phe chiến thắng, những sự kiện phù hợp với quan điểm chính thống được nhấn mạnh, còn những chứng cứ có thể gây bất lợi cho cách giải thích ấy thì bị gạt bỏ hoặc che giấu. Nguy hiểm của lối viết sử kiểu này là nó khiến người đọc tiếp nhận một kết luận chính trị như thể đó đã là sự thật lịch sử được chứng minh đầy đủ. Sự chọn lọc có chủ ý ấy có thể làm sai lệch cả nhận thức về một thời kỳ, nhất là khi những gì bị lược bỏ lại có ý nghĩa quyết định đối với việc xác định trách nhiệm của các bên liên quan.
Nguyễn Hải Thần qua đời tại Trung Quốc năm 1959, sau nhiều năm sống lưu vong. Cuộc đời ông kết thúc trong thất bại chính trị, nhưng thất bại ấy không đủ để giải thích toàn bộ những gì đã xảy ra, càng không thể được dùng làm bằng chứng phủ nhận quá khứ chống thực dân Pháp và tư cách yêu nước của ông. Một người có thể tính toán sai lầm, lựa chọn đồng minh thiếu sáng suốt và cuối cùng phải trả giá cho những quyết định của mình. Nhưng trong cuộc tranh chấp quyền lực, số phận của người thất thế còn chịu tác động từ những hành động của đối thủ, kể cả những biện pháp được sử dụng để loại bỏ họ. Tác giả đã bỏ qua phần lịch sử ấy để đưa ra một lời phán xét có vẻ dứt khoát về Nguyễn Hải Thần.
Tôi cho rằng lịch sử Việt Nam đã chịu quá nhiều hệ lụy từ lối tư duy lấy thắng bại chính trị làm tiêu chuẩn phân định chính tà, rồi dùng tiêu chuẩn ấy để đánh giá cả cuộc đời một con người. Lịch sử không có nghĩa vụ kết tội những người thất bại để xác nhận tính chính đáng của những người chiến thắng. Công việc của sử học là tìm hiểu và giải thích sự thật, kể cả khi sự thật ấy lột trần mặt trái của những quan niệm được cho là “chính thống”.
• Trong ảnh, ông Nguyễn Hải Thần (1869-1959), phó chủ tịch Chính phủ Liên hiệp, người thứ hai từ trái sang; đứng bên cạnh là chủ tịch Chính phủ, ông Hồ Chí Minh. Ảnh của Wikipedia common.
TINO CAO 29.10.2026

Aucun commentaire:
Enregistrer un commentaire
Remarque : Seul un membre de ce blog est autorisé à enregistrer un commentaire.