Sáng 23/09/2024 (nhân dịp tham dự Tuần lễ cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc Khóa 79 và làm việc tại New York) Tổng Bí thư (TBT), Chủ tịch nước (CTN) Tô Lâm đã tới thăm và phát biểu chính sách tại Đại học Columbia. TBT CTN Tô Lâm khẳng định :
“Con đường phát triển của Việt Nam không thể tách rời xu thế chung của thế giới và nền văn minh nhân loại” [1].
Con đường phát triển của văn minh nhân loại trả giá bằng nhiều thế kỷ với nhiều đau thương mất mát. Những quốc gia chậm phát triển cần đi theo con đường của văn minh nhân loại đã tạo dựng để tránh trả giá và rút ngắn thời gian. Trong giai đoạn Việt Nam đang muốn vươn mình, đặt mục tiêu phát triển GDP lên tới 10 %/năm thì bài học rút ra từ thực tiễn phát triển của các nước tiên tiến là cần thiết và quý giá.
Tuy nhiên, đáng lưu ý là trong một số lĩnh vực đã xuất hiện những dấu hiệu lệch khỏi các chuẩn mực nhà nước pháp quyền theo xu thế chung. Điển hình là Nghị định 109/2026/NĐ-CP, khi trao cho Chủ tịch UBND cấp xã thẩm quyền trực tiếp đình chỉ hoạt động hoặc tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp. Cụ thể như :
“Đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, giấy đăng ký hành nghề, thẻ tư vấn viên pháp luật, thẻ công chứng viên, thẻ cộng tác viên trợ giúp pháp lý”.
“Phạt tiền đến 15.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình ; đến 25.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp” [2].
Có thể hiểu, việc gia tăng thẩm quyền cho chính quyền cơ sở nhằm nâng cao hiệu quả quản trị, rút ngắn quy trình ra quyết định. Nhưng lĩnh vực hành nghề luật sư và bổ trợ tư pháp không phải là một hoạt động hành chính thuần túy. Đây là khu vực gắn trực tiếp với việc bảo vệ quyền con người và kiểm soát quyền lực nhà nước.
Việc trao quyền cho cấp xã can thiệp trực tiếp vào tư cách hành nghề của luật sư và các chủ thể bổ trợ tư pháp đặt ra một vấn đề mang tính cấu trúc : Nguy cơ hành chính hóa một lĩnh vực vốn đòi hỏi tính độc lập cao. Khi đó, không chỉ vị thế nghề nghiệp bị hạ thấp, mà quan trọng hơn, năng lực bảo vệ người dân trước pháp luật sẽ bị suy giảm.
Ở góc độ thể chế, sự mở rộng này còn làm mờ ranh giới giữa quản lý hành chính và các hoạt động gắn với tư pháp, từ đó làm suy yếu nguyên tắc phân quyền – một nền tảng của nhà nước pháp quyền. Với những rủi ro mang tính cấu trúc như vậy, Nghị định 109/2026/NĐ-CP cần được rà soát và đánh giá lại một cách toàn diện.
I. THỰC TIỄN Ở CÁC NƯỚC CÔNG NGHỆ TIÊN TIẾN
Để đánh giá liệu có sự tách rời khỏi “xu thế chung của thế giới” hay không, có thể tham chiếu kinh nghiệm của một số quốc gia có nền công nghệ tiên tiến như Đức, Nhật Bản và Hoa Kỳ. Ở các nước này, việc quản lý nghề luật sư được thể hiện qua ba khâu cốt lõi : Kiểm soát đầu vào, giám sát hành nghề và xử lý vi phạm. Dù đều là các nhà nước pháp quyền phát triển, mô hình quản lý luật sư ở Đức, Nhật Bản và Hoa Kỳ có những khác biệt nhất định.
Tóm tắt so sánh theo năm tiêu chí: (i) cấp bằng luật ; (ii) cấp chứng chỉ hành nghề luật sư ; (iii) tước quyền hành nghề ; (iv) chấm dứt hành nghề ; và (v) xử phạt vi phạm nghề nghiệp. Dưới đây là thực tiễn tại Đức, Nhật Bản, Hoa Kỳ và Việt Nam.
1. Đức
a/. Ai cấp bằng luật
- Nhà nước (các bang)
- Sinh viên phải qua:
+ Kỳ thi Nhà nước lần 1 (Erstes Staatsexamen)
+ Kỳ thi Nhà nước lần 2 (Zweites Staatsexamen)
Đây không chỉ là bằng đại học mà là hệ thống kỳ thi quốc gia để xác nhận đủ điều kiện hành nghề pháp lý.
b/. Ai cấp chứng chỉ hành nghề luật sư
- Đoàn luật sư khu vực (Rechtsanwaltskammer)
Việc cấp phép dựa trên luật liên bang (BRAO). Tự quản nghề nghiệp nhưng dưới khung pháp luật nhà nước.
c/. Ai tước quyền hành nghề
- Tòa án luật sư (Anwaltsgericht) : xử lý kỷ luật nghiêm trọng.
- Đoàn luật sư : xử lý kỷ luật ở mức độ nhẹ hơn.
Việc tước quyền hành nghề, đặc biệt trong các trường hợp nghiêm trọng, thường phải thông qua tòa án luật sư.
d/. Ai chấm dứt hành nghề
- Đoàn luật sư (trường hợp tự nguyện, hoặc không còn đủ điều kiện);
- Hoặc theo phán quyết tòa án.
e/. Ai xử phạt vi phạm nghề nghiệp
- Hệ thống kỷ luật riêng của nghề luật sư : Cảnh cáo, phạt tiền (trong khuôn khổ kỷ luật nghề): Đoàn luật sư
- Nặng hơn : Tòa án luật sư.
Đặc điểm cốt lõi của Đức: Tự quản nghề nghiệp mạnh; có tòa án chuyên biệt để bảo đảm tính pháp quyền; việc xử lý vi phạm nghề luật sư không đặt dưới cơ chế xử phạt hành chính trực tiếp của cơ quan hành pháp.
2. Nhật Bản
a/. Ai cấp bằng luật
- Trường đại học cấp bằng
- Nhưng để hành nghề phải vượt qua Kỳ thi tư pháp quốc gia (National Bar Exam) và hoàn thành chương trình đào tạo tại Viện Nghiên cứu và Đào tạo Pháp lý (Legal Training and Research Institute - LRTI).
b/. Ai cấp chứng chỉ hành nghề
- Đoàn luật sư địa phương thuộc Liên đoàn luật sư Nhật Bản (JFBA).
- Muốn hành nghề bắt buộc phải : Gia nhập đoàn luật sư.
c/. Ai tước quyền hành nghề
- Đoàn luật sư địa phương và chịu sự giám sát bởi Liên đoàn luật sư Nhật (JFBA)
d/. Ai chấm dứt hành nghề
- Đoàn luật sư (khi bị kỷ luật hoặc rút tên).
- Hoặc tự nguyện rút.
e/. Ai xử phạt vi phạm
- Hệ thống kỷ luật nội bộ của đoàn luật sư.
- Hình thức : Khiển trách ; Đình chỉ ; Xóa tên khỏi đoàn (tức là mất quyền hành nghề).
Đặc điểm cốt lõi của Nhật Bản : Tự quản nghề nghiệp rất mạnh ; nhà nước hầu như không trực tiếp can thiệp vào kỷ luật luật sư ; trong khi đó, đầu vào nghề được kiểm soát chặt chẽ thông qua kỳ thi tư pháp quốc gia và hệ thống đào tạo tập trung.
3. Mỹ
Trường hợp Hoa Kỳ có tính đặc thù do mỗi bang là một hệ thống riêng, nhưng vẫn có những điểm chung cơ bản.
a/. Ai cấp bằng luật
- Trường luật (law school)
- Tuy nhiên, bằng luật không đủ để hành nghề; ứng viên phải vượt qua kỳ thi luật sư (Bar Exam) của bang.
b/. Ai cấp quyền hành nghề
- Tòa án tối cao bang (State Supreme Court), thông qua việc quyết định cho gia nhập đoàn luật sư (admission to the bar)
Đây là điểm khác biệt lớn: luật sư được coi là “người phục vụ tòa án” (officer of the court).
c/. Ai tước quyền hành nghề
- Tòa án tối cao bang, sau khi có kết quả điều tra và kiến nghị từ ủy ban kỷ luật
d/. Ai chấm dứt hành nghề
- Tòa án bang (ra quyết định xóa tên khỏi danh sách hành nghề)
- Hoặc luật sư tự nguyện rút.
e/. Ai xử lý vi phạm nghề nghiệp
- Đoàn luật sư/ủy ban kỷ luật : điều tra, đề xuất
- Tòa án tối cao bang : ra quyết định cuối cùng
Hình thức kỷ luật : khiển trách ; đình chỉ ; tước quyền hành nghề vĩnh viễn.
Đặc điểm cốt lõi : Tòa án giữ vai trò trung tâm và quyền quyết định cuối cùng đối với nghề luật sư ; đoàn luật sư và các ủy ban kỷ luật thực hiện chức năng điều tra và hỗ trợ ; luật sư được đặt trong cấu trúc của hệ thống tư pháp, với mối liên hệ trực tiếp với tòa án.
4. Việt Nam (trước Nghị định 109/2026/NĐ-CP)
a/. Ai cấp bằng luật.
- Trường đại học cấp bằng cử nhân luật.
- Sau đó phải hoàn thành đào tạo nghề luật sư tại Học viện Tư pháp, cơ sở thuộc Bộ Tư pháp.
b/. Ai cấp chứng chỉ hành nghề.
- Bộ Tư pháp cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư.
- Sau đó phải gia nhập Đoàn luật sư mới được hành nghề.
Điểm đáng chú ý là cơ quan hành pháp giữ vai trò trực tiếp trong việc cấp chứng chỉ hành nghề – tức là quyết định tư cách hành nghề của luật sư.
d/. Ai chấm dứt hành nghề.
- Bộ Tư pháp : có quyền thu hồi chứng chỉ hành nghề.
- Đoàn luật sư : có thể xóa tên khỏi đoàn.
Nghĩa là cả cơ quan nhà nước và tổ chức nghề nghiệp đều có thẩm quyền ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng hành nghề.
Trong khi đó, tại Đức, cơ chế này chủ yếu vận hành thông qua tòa án luật sư ; tại Nhật, vai trò của Đoàn luật sư là trung tâm ; còn tại Mỹ, thẩm quyền thuộc về Tòa án tối cao bang.
e/. Ai xử phạt vi phạm
Tồn tại hai hệ thống song song :
- Đoàn luật sư : kỷ luật nghề nghiệp (khiển trách, cảnh cáo, tạm đình chỉ, xóa tên).
- Cơ quan nhà nước : xử phạt hành chính (phạt tiền, tước chứng chỉ…).
Như vậy, mặc dù bằng luật do cơ sở giáo dục cấp tương tự nhiều quốc gia khác, các khâu then chốt của nghề luật sư ở Việt Nam – từ cấp chứng chỉ, thu hồi đến xử phạt – vẫn gắn đáng kể với cơ quan hành pháp, bên cạnh vai trò của tổ chức nghề nghiệp.
Ngược lại, tại Đức, Nhật và Mỹ, quyền hành nghề luật sư chủ yếu được đặt trong khuôn khổ tư pháp và cơ chế tự quản nghề nghiệp, với sự tham gia hạn chế hơn của hành pháp.
Hệ quả là mức độ độc lập nghề nghiệp có sự khác biệt đáng kể. Ở các nước này, luật sư được đặt gần với hệ thống tư pháp, đóng vai trò bảo vệ quyền và tạo đối trọng với quyền lực công. Cơ chế gắn với tòa án và tự quản nghề nghiệp giúp luật sư vận hành như một chủ thể của hoạt động tư pháp, qua đó góp phần kiểm soát quyền lực và bảo đảm quyền công dân.
II. NHỮNG BẤT HỢP LÝ VÀ HỆ QUẢ BẤT LỢI CỐT LÕI
Giao cho Chủ tịch UBND cấp xã thẩm quyền trực tiếp đình chỉ hoạt động hoặc tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp là một thiết kế đi lệch chuẩn pháp quyền và tiềm ẩn các hệ quả tiêu cực.
1. Những điểm không phù hợp logic tổ chức quyền lực và chuyên môn
Dễ dàng nhận thấy 5 điều sau.
a/. Lệch cấp độ quản lý
Chứng chỉ hành nghề là quyền nghề nghiệp ở tầm quốc gia; đặt quyền tước ở cấp xã (đơn vị hành chính thấp nhất) tạo ra mất cân xứng thẩm quyền.
b/. Lệch chức năng
UBND là hành pháp, trong khi kỷ luật/tước quyền luật sư gắn với tư pháp và tự quản nghề; giao cho hành pháp trực tiếp quyết định là xâm phạm ranh giới chức năng.
c/. Thiếu năng lực chuyên môn
Việc tước chứng chỉ đòi hỏi đánh giá các chuẩn mực chuyên môn của nghề luật sư (chất lượng tư vấn, kỹ năng tranh tụng, tuân thủ quy tắc nghề nghiệp, xung đột lợi ích…). Cấp xã không có thiết chế và nguồn lực chuyên môn để thẩm định một cách sâu và nhất quán.
d/. Phá vỡ tính thống nhất pháp luật
Mỗi xã có thể áp dụng khác nhau. Chuẩn mực kỷ luật không đồng nhất giữa các địa phương.
e/. Xung đột lợi ích mang tính cấu trúc
Luật sư hành nghề trong không gian pháp lý do chính quyền địa phương chi phối. Nếu trao quyền tước phép cho chính chủ thể mà luật sư phải đối diện trong nhiều vụ việc đồng nghĩa với việc đặt nghề luật sư vào thế phụ thuộc. Hệ quả là thiên lệch có hệ thống, bất lợi cho vai trò bảo vệ quyền và kiểm soát quyền lực.
2. Những bất lợi cốt lõi
a/. Suy giảm độc lập nghề nghiệp
Luật sư dễ bị đặt dưới sức ép trực tiếp hoặc gián tiếp khi bảo vệ người dân trong các vụ việc liên quan đến chính quyền địa phương, khiến tính độc lập nghề nghiệp bị bào mòn và làm lệch cán cân bảo vệ quyền lợi.
b/. Rủi ro lạm quyền
Việc trao cho Chủ tịch xã thẩm quyền tước quyền hành nghề luật sư là biểu hiện của sự lấn át tư pháp bởi hành chính. Quyền lực không được kiểm soát dễ bị sử dụng tùy tiện, kéo theo nguy cơ vi phạm pháp luật và làm xói mòn nền tảng công lý.
c/. Làm méo mó quyền bào chữa
Rủi ro bị trừng phạt khiến luật sư né tránh các vụ “nhạy cảm”, làm thị trường dịch vụ pháp lý bị méo mó: người cần bảo vệ nhất lại khó tìm được người dám bảo vệ, kéo theo chất lượng tranh tụng suy giảm và quyền bào chữa bị rỗng hóa.
d/. Giảm tính dự báo và mất niềm tin
Khi chuẩn mực kỷ luật thiếu rõ ràng, áp dụng không nhất quán và có thể thay đổi theo từng vụ việc, luật sư và người dân không thể dự liệu rủi ro pháp lý. Doanh nghiệp khó hoạch định hoạt động. Để phòng ngừa phải tăng chi phí tuân thủ - không chỉ là tiền phạt (khi đã vi phạm), mà là chi phí “để không vi phạm”. Còn người dân thì mất niềm tin vào tính ổn định và công bằng của hệ thống.
e/. Tăng chi phí xã hội
Không chỉ các quyết định tước quyền hành nghề sai làm phát sinh khiếu nại, khởi kiện và bồi thường, mà còn kéo theo tình trạng tranh chấp kéo dài, kiện tụng nối tiếp giữa các bên. Hệ quả là chi phí pháp lý và chi phí cơ hội tăng cao, nguồn lực công và tư bị tiêu hao, tiến độ giải quyết vụ việc bị đình trệ và hiệu quả của toàn hệ thống bị suy giảm.
f/. Khó hội nhập chuẩn quốc tế
Cơ chế cấp và tước quyền hành nghề đặt trong tay cơ quan hành chính đi ngược thông lệ quốc tế, nơi thẩm quyền này gắn với tòa án và các tổ chức nghề nghiệp độc lập. Sự lệch chuẩn này làm suy giảm tính tương thích pháp lý, ảnh hưởng đến uy tín hệ thống và cản trở hợp tác, công nhận lẫn nhau trong hoạt động pháp lý xuyên biên giới.
III. NGHỊCH LÝ : KHÔNG PHẢI CỨ TĂNG QUYỀN LÀ MẠNH
Không phải cứ trao thêm quyền là làm cho chủ thể mạnh lên. Trao sai quyền có thể làm suy yếu chính họ. Sức mạnh phụ thuộc vào loại quyền và mức độ phù hợp với chức năng. Nếu quyền được trao nằm ngoài chuyên môn, đó không phải là tăng quyền mà là chuyển gánh nặng trách nhiệm. Ngược lại, những quyền cốt lõi để nâng cao hiệu quả quản trị lại không được trao, khiến việc ra quyết định vẫn phụ thuộc cấp trên. Kết quả là quyền thì nhiều hơn nhưng năng lực thực thi không tăng, thậm chí bị phân tán và rủi ro cao hơn.
Trao cho Chủ tịch xã thẩm quyền tước chứng chỉ hành nghề luật sư [2] không làm họ mạnh lên, mà làm suy yếu “hệ thống phòng ngừa – phát hiện – xử lý sai phạm” xung quanh chính quyền cơ sở. Bởi luật sư vốn là một thiết chế kiểm soát, giúp phát hiện sai phạm và bảo vệ quyền hợp pháp của người dân ; khi thiết chế này bị đặt dưới quyền xử lý của đối tượng mà nó cần kiểm soát, cơ chế tự điều chỉnh bị bóp méo, và hệ thống trở nên dễ sai lệch hơn.
Không phải cứ nhiều quyền là mạnh hay mang lại lợi ích. Ví như chiến tướng không tham thêm quân vào lúc sinh tử, người sáng trí biết từ chối những quyền lực vượt ngoài chuyên môn và năng lực, nhất là khi việc nhận thêm quyền có thể mang đến tai họa cho cộng đồng. Tham quyền không chỉ làm hoen ố thanh danh mà còn gây tổn hại cho lợi ích chung. Từ xưa đến nay, bản lĩnh của người trí không nằm ở chỗ nắm bao nhiêu quyền, mà ở chỗ biết dừng và biết buông đúng lúc. Nhưng buông quyền đúng vào lúc quyền lực đang bành trướng cực điểm là thử thách khắc nghiệt nhất - đến bậc trí nhân cũng khó vượt qua, huống hồ người thường ; may ra chỉ bậc thánh hiền.
CHIA SẺ
Bảo vệ người dân trước giặc ngoại xâm có thể ví là “mặt trận số 1” – tầm quan trọng là hiển nhiên ai cũng thấy. Nhưng bảo vệ người dân trước những rủi ro bị xâm phạm quyền, bị đối xử bất công hay oan sai trong đời sống thường nhật – có thể coi là “mặt trận số 2” – cũng quan trọng không kém, dù không phải lúc nào cũng được nhìn nhận đầy đủ.
Hoạt động của luật sư góp phần thiết yếu vào việc bảo vệ người dân trên “mặt trận số 2” này. Đây là cơ chế giúp cân bằng quyền lực, bảo đảm rằng các quyết định công quyền được kiểm tra, phản biện trong khuôn khổ pháp luật.
Thực tiễn cho thấy một nghịch lý: khi đang nắm quyền lực, không ít người có xu hướng xem nhẹ pháp luật và cơ chế kiểm soát. Nhưng khi rơi vào vòng tố tụng, lúc đó họ mới nhận ra rõ ràng giá trị của luật sư và sự cần thiết của một nền tư pháp công bằng, minh bạch, với quyền bào chữa được bảo đảm một cách sòng phẳng.
NGUYỄN NGỌC CHU 27.04.2026


Aucun commentaire:
Enregistrer un commentaire
Remarque : Seul un membre de ce blog est autorisé à enregistrer un commentaire.