lundi 9 septembre 2019

Nguyễn Quang Dy - Đánh giá giữa kỳ chiến tranh thương mại Mỹ-Trung

Phó thủ tướng Trung Quốc Lưu Hạc và đại diện thương mại Mỹ Robert Lighthizer tại Washington ngày 10/05/2019.

(VietStudies 09/09/2019) Chiến tranh thương mại Mỹ-Trung đã diễn ra 18 tháng nay, lúc đánh lúc đàm, vẫn đang leo thang chưa có hồi kết, với hệ quả khó lường. Gần đây, khi Trung Quốc đánh thuế lên 75 tỉ USD hàng nhập của Mỹ (23/8/2019), Trump lập tức phản ứng để trả đũa bằng tăng thuế từ 25% lên  30% trên 250 tỉ USD hàng nhập của Trung Quốc (từ 1/10/2019). Ông còn muốn tăng thuế trên 300 tỉ USD hàng nhập của Trung Quốc (đến hạn từ 1/10 và 15/12/2019), cấm cửa Huawei và yêu cầu các công ty Mỹ không được làm ăn với Trung Quốc.

Quyết định của Trump làm rung chuyển thị trường chứng khoán. Dow Jones giảm 600 điểm (bằng 2,4%). Nhưng chiến tranh thương mại chỉ là “phần nổi của tảng băng chìm” trong cuộc “chiến tranh lạnh mới” Mỹ-Trung, với những quan điểm khác nhau, thậm chí đầy nghịch lý. Tuy còn hơi sớm, nhưng cần đánh giá giữa kỳ chiến tranh thương mại Mỹ-Trung, để có cái nhìn toàn cảnh. 

Nghịch lý về chiến tranh thương mại

Trong khi chiến tranh thương mại “truyền thống” của Mỹ với EU (xuyên Đại Tây Dương) hoặc với Nhật Bản (xuyên Thái Bình Dương) trong thập niên 1980 (hay sau đó), chủ yếu là vì kinh tế, thì chiến tranh thương mại của Mỹ với Trung Quốc hiện nay chủ yếu là vì địa chính trị (do chiến lược thúc đẩy).

Vì vậy, chiến tranh thương mại “phi truyền thống” của Trump “không logic” (hoặc “logic ngược”). Nói cách khác, chiến tranh thương mại Mỹ-Trung chỉ là phần nổi của tảng băng chìm, với cuộc “chiến tranh lạnh kiểu mới” trên nhiều mặt trận. (The High Costs of the New Cold War, Minxin Pei, Project syndicate, March 14, 2019).

Cũng như vậy, chiến tranh lạnh “truyền thống” của Mỹ với Liên Xô trước đây chủ yếu là do chiến lược vì Liên Xô lúc đó không phải là siêu cường kinh tế. Cuộc “chiến tranh lạnh mới” với Trung Quốc là đối đầu tổng lực giữa hai hệ thống chính trị/tư tưởng đang muốn thống trị toàn cầu, vì Trung Quốc đang trỗi dậy như một siêu cường kinh tế và quân sự. Theo lời Richard Nixon, Trung Quốc đã trở thành “quái vật Frankenstein” tại Châu Á. 

Theo các chuyên gia kinh tế, chiến tranh thương mại “truyền thống” thường theo một số quy luật như “đánh đổi” (tradeoff). Họ thường lập luận “không có bữa trưa miễn phí” và mọi thứ đều phải có “chi phí cơ hội”. Với ý nghĩa đó, chiến tranh thương mại của Trump với Trung Quốc không chỉ là cuộc đấu về kinh tế. Đó còn là một phần của cuộc “chiến tranh lạnh kiểu mới” do Mỹ phát động để nhắm vào Trung Quốc, trong một cuộc đối đầu không chỉ tại khu vực Indo-Pacific mà trên toàn cầu, như một cuộc chiến “lồng ghép” (hybrid).

Như vậy, đối đầu Mỹ-Trung không chỉ là chiến tranh thương mại mà còn là “chiến tranh lạnh kiểu mới”, mang tính “đối kháng toàn diện” (về kinh tế, quân sự, công nghệ, hệ tư tưởng) có ý nghĩa sống còn, với thời gian kéo dài (trong thế kỷ 21). Đối đầu Mỹ-Xô (trong thế kỷ trước) chỉ mang tính “đối kháng về quân sự” của cuộc chiến tranh lạnh “truyền thống”. 

Mỹ cho rằng Trung Quốc là “cường quốc xét lại” (còn nguy hiểm hơn cả Nga), đang đe dọa không chỉ nước Mỹ mà cả trật tự thế giới dựa trên luật lệ. Vì vậy, Mỹ phải: (1) giữ khoảng cách về quân sự và kinh tế với Trung Quốc; (2) Kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc về công nghệ và địa chính trị; (3) Thúc đẩy sự phát triển của dân chủ hóa ở Trung Quốc.

Gần đây, Mỹ đang thuyết phục các nước G7 để hình thành một mặt trận đồng minh về thương mại nhằm đối phó với Trung Quốc. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng vì: (1) các nước G7 sẽ thay thế Trung Quốc trong quan hệ thương mại với Mỹ; (2) Các nước G7 sẽ tham gia cùng Mỹ trong cuộc chiến thương mại với Trung Quốc; (3) Với sự hộ trợ vững chắc đó, Mỹ sẽ tuyên bố tình trạng khẩn cấp, buộc các công ty Mỹ phải rời khỏi Trung Quốc.

Tính đến nay, Trung Quốc đã vượt qua 6 trong 7 nước thành viên G7 (chỉ đứng sau Mỹ về kinh tế). Trong mấy thập kỷ qua, Trung Quốc đã trỗi dậy vượt bậc vì lợi dụng được chính sách của Mỹ và phương Tây (constructive engagement), ăn cắp sở hữu trí tuệ, tạo ra thâm hụt lớn trong cán cân thương mại, thao túng đồng Nhân dân tệ để dành lợi thế kinh tế, đặt ra các rào cản và điều kiện để gây khó dễ cho hàng nhập vào Trung Quốc, cài đặt thiết bị gián điệp trong các sản phẩm (của Huawei), trợ giá cho hàng của Trung Quốc xuất sang Mỹ.  

Sau khi báo cáo của Robert Mueller không quy kết Trump đã thông đồng với Nga trong chiến dịch tranh cử, chắc Trump sẽ lại chơi “lá bài Nga”. Nếu Mỹ tiếp tục cấm vận và cô lập Nga thì sẽ đẩy Nga lại gần Trung Quốc hơn như đồng minh (làm Trung Quốc mạnh lên). Vừa qua, Mỹ đã rút khỏi hiệp ước tên lửa tầm trung không phải vì Nga vi phạm mà vì Trung Quốc đứng ngoài hiệp ước này để vi phạm. Nếu Mỹ không cải thiện được quan hệ hợp tác với Nga, thì các vấn đề quốc tế quan trọng (như Bắc Triều Tiên, Iran, Syria) sẽ tiếp tục bế tắc.

Trong khi Mỹ muốn chơi “lá bài G7” như một liên minh chống Trung Quốc (vì “công bằng thương mại”) và chơi “lá bài Nga” bằng cách kéo Nga trở lại G7 (để cô lập Trung Quốc), thì Đức và Pháp cũng muốn giảm căng thẳng với Nga. Đây cũng là cơ hội tốt để Nga thoát khỏi tình thế bị Mỹ và phương Tây cô lập về kinh tế. Chắc Putin cũng muốn “nước Nga trên hết”, vì Nga liên minh với Trung Quốc chỉ là nước cờ thế do tình huống. 

Ngày 26/8/2019, Bắc Kinh đã phát tín hiệu muốn đàm phán lại với Mỹ. Phó Thủ tướng Lưu Hạc đã gửi thông điệp cho Washington trong đó nhấn mạnh “Bắc Kinh sẵn sàng giải quyết các tranh chấp thương mại với Washington thông qua “đối thoại bình tĩnh”. Trong trò chơi thương mại “vừa đánh vừa đàm”, Bắc Kinh tỏ ra đang yếu thế, trong khi Washington đang ở thế thượng phong. Khi đàm phán tiếp tại Washington (dự kiến trong tháng 10/2019), chắc Trung Quốc muốn hòa hoãn với Mỹ, nhưng còn quá sớm để có thể dự đoán cụ thể.

Nhìn lại Trung Quốc và Mỹ

Gần đây, trên thế giới người ta vẫn còn đặt câu hỏi “Tập Cận Bình là ai?” Tuy có nhiều người nước ngoài bị nhầm về Tập, nhưng nhiều người Trung Quốc thân với Tập cũng không biết họ được cái gì khi ủng hộ Tập lên cầm quyền. Thực ra, Tập không đả phá Mao (như người ta tưởng) mà còn sùng bái Mao.

Tuy trong nước Tập đã củng cố được quyền lực, nhưng ngoài nước, phản ứng đối với các chương trình lớn của Tập đang tăng lên. Mỹ đang đối đầu với Trung Quốc trên mọi mặt, từ thương mại đến quân sự. Tập tỏ ra cứng rắn và quyền biến trong việc thao túng thể chế để buộc nó theo ý mình. Nhưng lịch sử Trung Quốc đã chứng minh, sớm hay muộn thì thể chế cũng đuổi kịp Tập. Vấn đề là khi nào. (Party Man: Xi Jinping’s Quest to Dominate China, Richard McGregor, Foreign Affairs, September/October 2019).      

Theo New York Times, Hồng Kông là thị trường tài chính lớn thứ ba trên thế giới, đang trong tình thế nguy hiểm. Đây là thời điểm nhạy cảm khi Mỹ tiến hành cuộc chiến hệ tư tưởng trực tiếp với Trung Quốc về hình thù của thế giới trong thế kỷ 21. Nhiều người cho rằng nếu để xảy ra Thiên An Môn lần thứ hai thì Tập Cận Bình sẽ gặp rắc rối lớn. Tập có nhiểu điểm yếu hơn là người ta tưởng.

Tuyên bố của Trump gần đây gắn thỏa thuận thương mại với biểu tình ở Hồng Kông có lẽ là “điểm sáng nhất” của Trump: “Rất khó thỏa thuận với Trung Quốc nếu họ dùng bạo lực. Ý tôi là nếu có một Thiên An Môn nữa…”. Hiện nay, trong số các ứng cử viên tổng thống của đảng Dân Chủ, chỉ có Elizabeth Warren là hiểu về Trung Quốc, nên đang lên điểm. Trung Quốc sẽ là một chủ đề lớn trong năm tranh cử 2020. (Trump Has China Policy About Right, Roger Cohen, New York Times, August 30, 2019).

Nikki Haley (cựu đại sứ tại LHQ và ứng cử viên tổng thống tiềm năng) lập luận: “bản chất cực đoan của chiến lược an ninh quốc gia Trung Quốc chỉ bộc lộ rõ trong mấy năm gần đây. Khi điều chỉnh chiến lược an ninh quốc gia Mỹ để đối phó, chúng ta muốn khuyến khích các đồng minh điều chỉnh chiến lược của họ. Trung Quốc đòi hỏi không chỉ “cả chính phủ” mà “cả quốc gia” phải vào cuộc. May mắn là chúng ta có sự ủng hộ của tất cả các phía để đối phó với chính sách hung hăng mới của Trung Quốc. Chúng ta phải hành động ngay, trước khi quá muộn. Cái giá phải trả rất lớn, có thể là sống còn”.

Theo Haley, Tập đã thủ tiêu khái niệm Trung Quốc sẽ “hòa đồng”, và thái độ cứng rắn về thương mại “chỉ là bước đầu”. Mỹ cần “thay đổi lăng kính để xem xét lại các quy định của Mỹ về ngoại thương, chuỗi cung ứng quốc tế, đầu tư vào Mỹ, bảo vệ bản quyền, ưu đãi cho công nghệ quốc phòng cốt lõi”.  (How to Confront an Advancing Threat From China, Nikki Haley, Foreign Affairs, July 18, 2019).

Theo Andrew Hastie (Chủ tịch Ủy ban Tình báo và An ninh của Quốc hội Úc), nước Úc đã đánh giá thấp Trung Quốc. Để so sánh, ông nhắc lại bài học về Đức Quốc Xã trong những năm 1930. Quan điểm của Hastie phản ánh sự phân hóa trong chính giới Úc và phương Tây. Hastie cho rằng Úc đang đứng trước thử thách lớn nhất về an ninh, kinh tế, và dân chủ trong thập niên tới khi Trung Quốc và Mỹ cạnh tranh để bá chủ toàn cầu. “Thập niên tới sẽ thử thách các giá trị dân chủ, nền kinh tế, khối liên minh và an ninh của chúng ta, mà Úc chưa từng thấy trong lịch sử. Lúc này, chỗ yếu lớn nhất không phải là hạ tầng mà là tư duy của chúng ta. Thất bại về nhận thức sẽ làm chúng ta yếu kém về thể chế. Nếu chúng ta không hiểu thách thức trước mắt, thì chủ quyền và tự do của chúng ta sẽ bị suy yếu”. (SBS News, 8/8/2019).

Đối với nhiều người Đức và Châu Âu, việc Trung Quốc tăng cường trấn áp trong nước đang đặt ra các câu hỏi đáng lo ngại về hình thù thế giới do Trung Quốc dẫn dắt. Châu Âu đang cố gắng xem làm thế nào để hợp tác với Mỹ về Trung Quốc. Có nhiều người coi thường thách thức của Trung Quốc. Nếu thế giới dân chủ không làm được gì thì Trung Quốc sẽ lập ra một thể chế như họ muốn, và chắc Châu Âu không muốn thấy hệ quả đó. Không phải chỉ có Đức đang tỉnh ngộ mà hai cường quốc khác là Pháp và Anh cũng đều lo lắng, tuy họ vẫn hợp tác với Trung Quốc về các thách thức toàn cầu như biến đổi khí hậu và phổ biến vũ khí hạt nhân. Tại Châu Âu, nhiều người cho rằng Trung Quốc đang làm tổn hại đến các giá trị dân chủ của phương Tây và các tiêu chuẩn hành xử dựa trên luật pháp. Trong chuyến thăm Pháp của Tập Cận Bình, Macron đã tuyên bố chấm dứt “sự ngây thơ của Châu Âu” về Trung Quốc. 

Nhưng Châu Âu không thỏa thuận được việc đáp ứng yêu cầu của Mỹ là Châu Âu phải cấm Huawei làm dự án mạng 5G. Ủy ban Châu Âu đã ra khuyến cáo về rủi ro an ninh mạng, nhưng để tùy các nước tự quyết định về tiêu chí an toàn của họ. Hầu hết các nước còn đang soạn thảo chính sách quốc gia về 5G. Đức và Anh đang thắt chặt các yêu cầu về an toàn cho các nhà cung cấp 5G, và Pháp đã có tiêu chí an toàn để răn đe các nhà mạng không sử dụng thiết bị Huawei cho mạng 5G của họ. Nhưng không có nước nào thuận theo lập trường của Washington muốn cấm hoàn toàn Huawei, vì còn lâu EU mới có một chính sách chung.

Tại Châu Á, chiến lược kết nối của Nhật, do thủ tướng Shinzo Abe đề xướng (như một mô hình tốt) ngay sau khi Trung Quốc triển khai BRI (Vành đai Con đường). Quỹ đầu tư gồm $110 tỉ USD đã nâng cao năng lực của Nhật để tài trợ cho các dự án phát triển có tài chính bền vững và chất lượng cao trong khi hợp tác với Trung Quốc, nếu chấp thuận nguyên tắc của Nhật. Điều mà Nhật học nhanh hơn các nước Tây Âu là sẽ làm theo Trung Quốc nếu họ là bên duy nhất tham gia trò chơi. Nhưng khi các nước khác cạnh tranh, thì thế giới đang phát triển có nhiều lựa chọn  hơn. (The Old World and the Middle Kingdom: Europe Wakes Up to China’s Rise, Julianne Smith & Torrey Taussig, Foreign Affairs, September/October 2019).

Cách đây hơn 77 năm, Nicholas Spykman (một chiến lược gia Mỹ gốc Hà Lan) đã thấy trước một liên minh hậu chiến gồm Mỹ và Nhật để chống Trung Quốc. Tầm nhình xa đó đã xác định và ổn định Châu Á, giúp đem lại hòa bình và thịnh vượng cho khu vực suốt 3/4 thế kỷ. Nếu không có liên minh Mỹ-Nhật, thì tổng thống Nixon không thể bắt tay với Trung Quốc (năm 1972). Nhưng tầm nhìn của Spykman về Châu Á nay đang bắt đầu suy sụp. (Asia’s Coming Era of Unpredictability, Robert Kaplan, Foreign Policy, September 1, 2019).

Điều đó là do Châu Á đã trải qua một quá trình chuyển đổi ngoạn mục. Nay ít người nhận thấy chúng ta đang bước vào một kỷ nguyên mới, với một nước Trung Quốc hung hăng nhưng nội bộ bất ổn, cùng với một hệ thống đồng minh với Mỹ đang rạn nứt, và hải quân Mỹ không còn bá chủ thế giới như trong mấy thập kỷ trước. Khủng hoảng chính trị ở Hồng Kông và suy giảm quan hệ giữa Nam Hàn và Nhật là tiền đề cho mấy năm tới khi an ninh Châu Á không còn là chuyện mặc nhiên. Nếu trật tự “đơn cực” là chìa khóa ngầm cho tầm nhìn của Spykman vể một liên minh Mỹ-Nhật, thì sự chuyển đổi sang trật tự “đa cực” bắt đầu.           

Các dự án phát triển hải cảng gần đây của Trung Quốc ở Darwin (Bắc Úc) và ở Ream (gần Sihanoukville) chứng tỏ họ đang lấp lỗ trống hàng hải tại cửa ngõ Biển Đông và Ấn Độ Dương. Kết quả là Indo-Pacific không còn là cái hồ của hải quân Mỹ. Bằng cách lựa chọn chính sách song phượng đơn điệu với từng nước Châu Á mà không có tầm nhìn khu vực rõ ràng, nên chính quyền Trump đã mở “cái hộp Pandora” gồm nhiều vấn đề khu vực có thể làm các nước đồng minh với Mỹ chống đối nhau trong khi chỉ có Trung Quốc trục lợi. 

Liên minh mới của Washington với New Delhi và một mạng lưới đối tác mới xuất hiện (gồm Ấn Độ, Úc, Nhật, và Việt Nam) tuy hữu ích nhưng làm được ít hơn là người ta tưởng. Từ Nhật tới Úc, các nước đồng minh Châu Á đang đi vào quỹ đạo Trung Quốc theo cách mà Phần Lan đã xích lại gần Liên Xô trong thời chiến tranh lạnh (vì họ không có sự lựa chọn). Nếu Mỹ để điều này xảy ra thì chúng ta sẽ thấy tầm nhìn của Spykman chấm dứt.

Theo Stephen Walt (Harvard KSG) có hai yếu tố quan trọng nhất cần xem xét: Một là cân bằng lực lượng giữa Mỹ và Trung Quốc; Hai là phản ứng của các nước Châu Á trước các biến động quan trọng của thế cân bằng đó. Có 3 kịch bản chính: (1) Trung Quốc tiếp tục trỗi dậy nhanh trong khi Mỹ vấp ngã; (2) Trung Quốc vấp ngã trong khi Mỹ bất chấp dự đoán là sẽ suy yếu.  (Đây là kịch bản tốt nhất cho Mỹ); (3) Trung Quốc tiếp tục trỗi dậy nhưng Mỹ vẫn theo kịp. Khoảng cách có thể thu hẹp nhưng Trung Quốc không vượt được Mỹ. Thế giới trở thành “lưỡng cực” (bipolarity) hoặc “đa cực” (multipolarity) với Mỹ và Trung Quốc bỏ xa các cường Quốc khác (như Nga, Ấn Độ, Nhật Bản). Đây là kịch bản có nhiều khả năng nhất. (Asia Has Three Possible Futures, Stephen Walt, Foreign Policy, September 5, 2019).

Nhìn lại Việt Nam    

Sau khi Trump bất ngờ lên án Việt Nam là “nước lạm dụng tồi tệ nhất” về thương mại và “còn tồi tệ hơn cả Trung Quốc”, Bộ Thương Mại Mỹ đã đánh thuế hơn 400% lên thép nhập khẩu từ Việt Nam có nguồn gốc từ Hàn Quốc và Đài Loan (hoặc Trung Quốc). Việt Nam có thể là mục tiêu tiếp theo để Mỹ đánh thuế. Tuy đây là phát súng cảnh báo, nhưng điều tồi tệ nhất vẫn còn ở phía trước. Khi chiến tranh thương mại Mỹ-Trung nổ ra, nhiều người lạc quan cho rằng Việt Nam sẽ là “bên thắng cuộc” (winner) được lợi từ cuộc chơi này, trong khi nhiều người khác lại bi quan cho rằng Việt Nam là “bên thua cuộc” (loser) vì “trâu bò đánh nhau ruồi muỗi chết”. Tuy cả hai nhóm trên đều có lý nhất định, nhưng có xu hướng đơn giản hóa vấn đề. Thực ra, Việt Nam “vừa thắng vừa thua”, tùy thuộc vào cách ứng xử của mình.

Thâm hụt thương mại của Mỹ với Việt Nam tăng từ 31,98 tỉ USD (năm 2016) lên 39,49 tỉ USD (năm 2018) và tăng thêm 39% (tính đến 6/2019). Trong khi thâm hụt thương mại của Mỹ là một cách đánh giá thiếu chính xác thương mại với Việt Nam, thuế của Mỹ có thể làm hại mục tiêu an ninh của Mỹ đối với Trung Quốc. Cả hai đảng ngày càng đồng thuận là nếu không ngăn chặn thì Trung Quốc sẽ là nguy cơ an ninh lớn nhất, và quan hệ Mỹ-Việt vững mạnh sẽ là yếu tố ngày càng quan trọng để cân bằng ảnh hưởng của Trung Quốc ở khu vực.

Tuy Việt Nam có thể là mục tiêu tiếp theo để Mỹ đánh thuế, nhưng có những cách tính toán khác cơ bản với Trung Quốc. Tuy còn quá sớm để biết liệu Việt Nam có được Mỹ tha không, hay sẽ bị vạ lây khi hai bên đánh nhau. Rất ít khả năng Mỹ tha cho một nước không gần Mỹ bằng Nhật Bản và Hàn Quốc tuy là đồng minh của Mỹ nhưng cũng bị cho vào tầm ngắm. Tuy nhiên Mỹ nên cộng tác với Việt Nam để hạn chế việc trung chuyển hàng hóa và tăng cường hợp tác an ninh để lôi kéo Việt Nam gần Mỹ hơn. (The Next Battleground in Trump’s Trade War: Vietnam, Alexander Hitch, Diplomat magazine, September 2019).

Một số nhà phân tích coi Việt Nam là nơi Trung Quốc chọn để “tập dượt” trước khi đánh thật lớn hơn với Mỹ tại Biển Đông. Derek Grossman (chuyên gia phân tích tại RAND Corporation) lập luận rằng nếu Trung Quốc định tấn công quân sự tại Biển Đông, có nhiều khả năng họ sẽ chọn Việt Nam. Trong một bài viết vào đầu năm nay (trước khi có đối đầu tại bãi Tư Chính) ông cho rằng Việt Nam sẽ được Bắc Kinh chọn để “khởi động cuộc chiến” vì đó là “một quốc gia tầm trung dễ bị quân đội Trung Quốc đánh bại”. (Vietnam Is the Chinese Military’s Preferred Warm-Up Fight, Derek Grossman, Diplomat, May 14, 2019).    

Rõ ràng quân đội Việt Nam yếu kém hơn quân đội Trung Quốc. Trong khi Việt Nam chi 5 tỉ USD mỗi năm cho quốc phòng thì Trung Quốc chi 200 tỉ USD. Quân số Trung Quốc gấp 5 lần Việt Nam, trong khi số máy bay chiến đầu gấp 10 lần (3.187 trên 318) và số tàu chiến gấp 11 lần (714 trên 65). Trang bị của quân đội Trung Quốc tốt hơn nhiều. Hải quân Trung Quốc có tàu sân bay và tàu khu trục, trong khi Việt Nam không có. Nếu đối đầu (standoff) hiện nay trở thành đối kháng vũ trang (armed confrontation) thì đó là cơ hội để Trung Quốc “tập sẵn sàng chiến đấu” cho các trận đánh lớn hơn trong tương lai tại vùng biển có tranh chấp. (Why China is picking a fight with Vietnam, David Hutt, Asia Times, September 5, 2019).

Hiện nay Việt Nam mua khoảng 4/5 thiết bị quân sự của Nga và 1/10 của Israel. Nếu Việt Nam mua thêm thiết bị của Mỹ, thì Washington có thể ưu ái không trừng phạt Việt Nam theo luật   CAATSA (Countering America’s Adversaries Through Sanctions Act) vì mua vũ khí của Nga. Vừa qua Việt Nam đã được Mỹ tạm miễn trừ theo luật CAATSA, vì cựu bộ trưởng quốc phòng James Mattis cho hưởng ngoại lệ (waiver). Nhưng để ngoại lệ đó trở thành chính thức, Hà Nội phải chứng tỏ đang giảm phụ thuộc vào vũ khí nhập của Nga. Hầu hết các nhà phân tích cho rằng trong tình huống bất cân xứng (asymmetry), lựa chọn chiến lược duy nhất của Việt Nam trong một cuộc xung đột trong tương lai là phòng vệ (defensive).

Mỹ cần phải chứng tỏ rằng họ nghiêm túc đảm bảo an ninh cho Việt Nam để đối phó với Trung Quốc. Chắc chắn Hà Nội vẫn nhớ rằng tổng thống Obama đã không bảo vệ cho đồng minh khi Trung Quốc chiếm Scarborough Shoal của Philippines (năm 2012). Obama cũng không hỗ trợ  Việt Nam trong vụ đối đầu dàn khoan HD-981 (năm 2014). Trump cũng cư xử tương tự, tuy tuyên bố cứng rắn nhưng không có hành động tương xứng khi Trung Quốc bắt nạt Việt Nam (và Repsol) buộc phải bỏ kế hoạch khai thác dầu khí tại vùng đặc quyền kinh tế của mình tại mỏ Cá Rồng Đỏ (lô 136-03 & 07-03) vào tháng 7/2017 và tháng 3/2018.     

Đối với Việt Nam, chắc Washington cũng không muốn mở rộng chiến tranh thương mại sang một đối tác chiến lược tiềm năng tại khu vực (chỉ vì lý do kinh tế). Đây không phải là mặt trận phụ (sideshow) của Trung Quốc, là mục tiêu chính trong cuộc chiến thương mại “phi truyền thống” (hay “chiến tranh lạnh mới”). Tuy Trung Quốc gây sức ép mạnh hơn lên Việt Nam, vô hình trung đẩy Việt Nam vào vòng tay Mỹ, nhưng thật vô lý nếu chính quyền Trump đúng lúc này lại trừng phạt và đẩy Việt Nam trở lại vòng tay Trung Quốc.   

Một yếu tố khác trong thâm hụt thương mại giữa Việt Nam và Mỹ là sự “thiếu hụt thông tin”. Nhiều người không hiểu rằng trong tổng số hàng nhập của Việt Nam bao gồm một tỉ lệ rất lớn (hơn 70%) từ “khu vực FDI” (đầu tư nước ngoài). Đó chủ yếu là hàng tiêu dùng “sản xuất tại Việt Nam” nhưng không hẳn là “sản phẩm của Việt Nam”, mà là “sản phẩm gia công” cho các nhà đầu tư nước ngoài. Các mẫu điện thoại iphone (của Samsung) hoặc giầy Nike (của Mỹ) tuy sản xuất tại Việt Nam nhưng không hẳn là sản phẩm của Việt Nam mà là của hàn Quốc (hoặc của Mỹ) trong chuỗi giá trị toàn cầu. Ví dụ, một đôi giầy Nike “sản xuất tại Việt Nam” và bán ở Mỹ với giá khoảng 100 USD, thì Việt Nam chỉ được hơn 1 USD. Đây chính là “bẫy gia công” mà các chuyên gia kinh tế đã cảnh báo rủi ro trong chuỗi giá trị toàn cầu.  

Lời cuối

Trong bối cảnh “khủng hoảng Biển Đông lần 2”, Bộ Chính trị Đảng CSVN đã ban hành Nghị quyết 50-NQ/TW (20/8/2019). Đây là một cột mốc quan trọng để điều chỉnh chiến lược theo định hướng mới, trước chuyến thăm Mỹ của TBT-CTN Nguyễn Phú Trọng (dự kiến tháng 10/2019). Nó đã mở ra một bước ngoặt mới, để Hà Nội tuyên bố mạnh mẽ hơn, tàu cảnh sát biển Việt Nam hành động kiên quyết hơn tại bãi Tư Chính, và hải quân Việt Nam mạnh dạn hơn, tham gia cuộc tập trận (lần đầu tiên) với Mỹ và ASEAN (2-6/8/2019).  

Nghị quyết 50 (từ trên xuống) là một yếu tố thay đổi được công chúng ủng hộ (từ dưới lên), báo hiệu một bước chuyển biến tích cực đang diễn ra (như “cùng tắc biến”) đáp ứng kịp thời đòi hỏi cấp bách phải đổi mới từ bên trong và liên kết với bên ngoài. Hành động xâm lược của Trung Quốc tại bãi Tư Chính cũng là một yếu tố thúc đẩy đồng thuận quốc gia và đồng thuận quốc tế chống Trung Quốc, mà bài viết của ông Vũ Ngọc Hoàng là một chỉ dấu điển hình (Trao đổi nhanh về chuyện Biển Đông, Vu Ngoc Hoang, Viet-studies, 8/9/ 2019).

Một lần nữa khi tổ quốc lâm nguy, người Việt Nam lại phải dẹp bỏ lợi ích cá nhân hay phe nhóm, để chung tay bảo vệ lợi ích quốc gia. Điều đó không dễ, vì các nhóm lợi ích trong nước (cũng như giữa các nước ASEAN) đã bị Trung Quốc phân hóa và thao túng. Chuyến thăm Mỹ của ông Nguyễn Phú Trọng là cơ hội tốt để đổi mới thể chế (bên trong) và liên kết chiến lược với Mỹ (bên ngoài), nhằm bảo vệ chủ quyền tại Biển Đông. Nói cách khác, chiến tranh thương mại Mỹ-Trung và chủ quyền Biển Đông có mối liên kết chặt chẽ.

Tham khảo 

1. The High Costs of the New Cold War, Minxin Pei, Project syndicate, March 14, 2019
2. Vietnam Is the Chinese Military’s Preferred Warm-Up Fight, Derek Grossman, Diplomat, May 14, 2019
3. How to Confront an Advancing Threat From China, Nikki Haley, FA, July 18, 2019.
4. Trump Has China Policy About Right, Roger Cohen, Roger Cohen, NYT, August 30, 2019
5. Party Man: Xi Jinping’s Quest to Dominate China, Richard McGregor, Foreign Affairs,   September/October 2019.
6. The Old World and the Middle Kingdom: Europe Wakes Up to China’s Rise, Julianne Smith & Torrey Taussig, Foreign Affairs, September/October 2019. 
7. Asia’s Coming Era of Unpredictability, Robert Kaplan, Foreign Policy, September 1, 2019
8. This Is How a War With China Could Begin, Nicholas Kristof, NYT, September 4, 2019
9. Trump’s Effect on US Foreign Policy, Joseph Nye, Project Syndicate, September 4, 2019
10. Asia Has Three Possible Futures, Stephen Walt, Foreign Policy, September 5, 2019
11. The Next Battleground in Trump’s Trade War: Vietnam, Alexander Hitch, Diplomat magazine, September 2019
12. Trao đổi nhanh về chuyện Biển Đông, Vu Ngoc Hoang, Viet-studies, September 8, 2019.

NGUYỄN QUANG DY

Aucun commentaire:

Enregistrer un commentaire

Remarque : Seul un membre de ce blog est autorisé à enregistrer un commentaire.