vendredi 18 septembre 2026

Huỳnh Ngọc Chênh – Vì sao văn học Việt Nam chưa có tác phẩm lớn ?

 

Không phải ngẫu nhiên mà trong tứ quốc đồng văn ở Đông Á, có ba nước Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc đã có giải Nobel văn học, còn Việt Nam thì vẫn chưa.

Thật ra đến tận bây giờ Việt Nam vẫn chưa có một bộ tiểu thuyết nào lớn, một cuốn sách văn học nào có tầm vóc để có chỗ đứng trên văn đàn thế giới. Lý do rất rõ ràng là Việt Nam không có bề dày sáng tác văn chương.

Theo thống kê dưới đây, trong suốt mấy ngàn năm phong kiến, Việt Nam chỉ có 40 bộ tiểu thuyết chữ Hán và khoảng gần 150 truyện thơ Nôm.

Trong khi đó thì:

- Trung Hoa phong kiến có đến 3.348 bộ tiểu thuyết.

- Nhật Bản có đến 500.000 đầu sách lưu trong thư viện với trên chục ngàn bộ tiểu thuyết.

- Triều Tiên có đến 3.090 bộ tiểu thuyết.

Trung Hoa, Nhật Bản và Triều Tiên đều có chữ viết riêng cho dân tộc họ, nên tác phẩm họ viết ra có sức sống và phát triển rộng rãi.

Thời xưa Việt Nam không có chữ viết riêng, phải dùng chữ Hán làm quốc ngữ. Chỉ có vua quan và tầng lớp thượng lưu hiếm hoi mới biết chữ, còn lại phải trên 95 % dân mù chữ. Ngay cả chữ Nôm được lập ra để ghi lại tiếng Việt, nhưng cũng chỉ người biết chữ Hán mới đọc và dùng được.

Rất hiếm người biết chữ nên vô cùng hiếm độc giả, tác giả viết sách ra nhưng chỉ vài người đọc thì mất hứng ngay. Vài chục cuốn tiểu thuyết viết và in ra thời đó chỉ cất trong thư viện chứ chẳng bán được cho ai. Không có người đọc, không có thị trường, sáng tác tự nó bị thui chột.

Truyện thơ Nôm thì có sức sống hơn, nhưng đại bộ phận dân chúng mù chữ nên chỉ truyền miệng là chính. Thời tui còn bé, thập niên 50, 60, nhiều ông bà già trong làng thuộc vanh vách các truyện thơ như Trần Minh Khố Chuối, Lâm Sanh Xuân Nương, Thạch Sanh Lý Thông …đọc cho con cháu nghe dù họ chẳng biết một chữ nhất một, Hán hay quốc ngữ.

Văn học Việt Nam thực sự bùng nổ sau khi có chữ quốc ngữ. Bắt đầu xuất hiện tiểu thuyết, thơ mới từ đầu thế kỷ 20 và bùng nổ lên đỉnh cao rực rỡ trong khoảng thời gian từ 1930 đến 1945.

Chỉ trong vòng 15 năm mà số lượng tiểu thuyết, khảo luận, thơ mới có đến hàng chục ngàn tác phẩm. Chưa nói hội họa và nhất là âm nhạc đã phát triển rực rỡ không thua kém gì văn thơ trong giai đoạn này.

Tất cả đều nhờ vào chữ quốc ngữ đã phổ biến và nhất là nhờ vào tự do sáng tác. Tuy nhiên, sau năm 1945, nền văn học mới, non trẻ và rực rỡ đó gọi là văn học Tiền Chiến đã bị dập tắt bởi sự định hướng và kiểm soát sáng tác của nhà cầm quyền miền Bắc.

Miền Nam còn được kéo dài tự do sáng tác thêm 20 năm nữa rồi cũng bị kiểm soát sau năm 1975.

Tóm lại trong vài ngàn năm lịch sử, văn học Việt Nam chỉ thực sự bùng lên có 15 năm (toàn quốc) + 20 năm (Miền Nam).

Mấy ngàn năm trôi qua thì không có chữ viết để sáng tác, qua thế kỷ 20 có chữ viết thì chưa kịp bùng lên đã bị dập tắt.

Với bề dày quá ngắn như vậy bảo sao mà có tác phẩm lớn để tranh đua với thiên hạ.

THỐNG KÊ SỐ LƯỢNG TIỂU THUYẾT CỦA CÁC NƯỚC ĐỒNG VĂN THỜI QUÂN CHỦ

Khái niệm xuất hiện sớm nhất trong Trang Tử và được Ban Cố định nghĩa chính thức trong Hán thư - Nghệ văn chí là "những lời đồn đãi ngõ hẻm, do những kẻ nói chuyện phiếm tạo ra". Suốt nhiều thế kỷ, tiểu thuyết bị giới Nho sĩ coi là "dị đoan", "mạt lưu" (thứ văn chương thấp kém, mua vui). Từ những mảnh ghép vụn vặt ban đầu, thể loại này dần tiến hóa thành các cốt truyện dài (thoại bản) để kể ở chợ, rồi định hình thành tiểu thuyết chương hồi phục vụ giới bình dân.

Trung Quốc

Theo các thống kê, tiểu thuyết Trung Quốc thời quân chủ (tồn tại đến cuối thời nhà Thanh) còn lưu truyền chính xác 3.348 bộ.

Tiểu thuyết văn ngôn (viết bằng Hán cổ): 2.184 bộ. Thống kê này được xác nhận trong công trình Trung Quốc văn ngôn tiểu thuyết tổng mục đề yếu (中国文言小说总目提要) do học giả Ninh Giá Vũ (宁稼雨) biên soạn. Danh mục này tập hợp các tác phẩm từ giai đoạn trước thời Đường cho đến cuối thời nhà Thanh, bao quát các thể loại như chí quái, chí nhân, truyền kỳ và bút ký tiểu thuyết.

Tiểu thuyết thông tục/bạch thoại (viết bằng ngôn ngữ đời thường): 1.164 bộ. Con số này được thống kê định lượng trong công trình Trung Quốc thông tục tiểu thuyết tổng mục đề yếu (中国通俗小说总目提要). Danh mục tổng hợp toàn bộ các tiểu thuyết thông tục từ thời Đường đến cuối thời Thanh (bao gồm thoại bản, tiểu thuyết chương hồi). Trong số 1.164 bộ này, có hơn 150 bộ (khoảng 13%) là các tác phẩm "tục thư" (phần viết tiếp dựa trên danh tiếng của các tiểu thuyết ăn khách).

Nhật Bản

Khác với Trung Quốc có các bộ tổng thư mục thống kê chính xác đến từng chữ số (như con số 3.348 bộ), giới học thuật Nhật Bản không có một con số tổng cộng duy nhất và tuyệt đối cho toàn bộ "tiểu thuyết" trước thời Minh Trị (trước 1868).

Theo cơ sở dữ liệu thư tịch cổ quốc gia của Nhật Bản hiện nay là Kokusho Database (Quốc thư Tổng mục lục), toàn bộ thư tịch Nhật Bản trước thời Minh Trị có khoảng 500.000 đầu sách (trong đó thời Edo chiếm hơn 400.000 tác phẩm).

Monogatari (Vật ngữ - Truyện cổ thời Heian/Kamakura): Có khoảng 200 tác phẩm còn lưu truyền đến ngày nay (tiêu biểu như Genji Monogatari).

Otogizōshi (Ngự già thảo tử - Truyện ngắn thời Muromachi): Có khoảng 400 đến 500 đầu truyện độc lập còn tồn tại.

Kanazōshi (Giả danh thảo tử - Tiểu thuyết chữ Kana đầu thời Edo): Khoảng 500 đến 800 tác phẩm. Dự án học thuật Kanazōshi Shūsei (Giả danh thảo tử tập thành) hiện vẫn đang trong quá trình thu thập và in lại toàn bộ số lượng này.

Ukiyozōshi (Phù thế thảo tử - Tiểu thuyết hiện thực trung kỳ Edo): Có khoảng hơn 500 tác phẩm, nở rộ từ các sáng tác của Ihara Saikaku.

Kusazōshi (Thảo song chỉ - Tiểu thuyết bình dân có hình minh họa): Đây là mảng có số lượng khổng lồ nhất. Chỉ tính riêng phân nhánh Kibyōshi (Hoàng biểu chỉ - truyện bìa vàng) xuất bản trong khoảng 30 năm (1775-1806) đã được thống kê chính xác lên tới khoảng 3.000 bộ. Phân nhánh Gōkan (Hợp quyển) nối tiếp sau đó cũng đạt hàng ngàn bộ.

Yomihon (Độc bản - Tiểu thuyết chữ, lịch sử/dã sử cuối thời Edo): Ước tính có hơn 1.000 bộ (tiêu biểu là các bộ trường thiên của Takizawa Bakin hay Ueda Akinari).

Sharebon, Kokkeibon, Ninjōbon (Tiểu thuyết hài hước, tình cảm trào phúng): Hàng ngàn tác phẩm được in ấn và tiêu thụ rộng rãi.

Bán đảo Triều Tiên

Từ điển lớn lịch sử tiểu thuyết cổ điển Hàn Quốc (한국 고전소설사 큰사전) do học giả Cho Hee Woong biên soạn, Bán đảo Triều Tiên thời quân chủ ghi nhận tổng cộng 3.090 bộ tiểu thuyết cổ điển.

Bộ từ điển gồm 74 tập này được công bố vào năm 2017-2018, hệ thống hóa dữ liệu ròng rã trong 25 năm để bao quát toàn bộ các sáng tác văn xuôi hư cấu bằng chữ Hán và chữ Hangul từ thời Tam Quốc kéo dài đến cuối thời đại Joseon. Tình trạng lưu truyền của 3.090 tác phẩm này được giới nghiên cứu phân định bằng các con số chính xác như sau:

Tác phẩm thất truyền (chỉ còn lưu lại nhan đề): 1.965 bộ. Các tiểu thuyết này đã bị tiêu hủy hoặc thất lạc hoàn toàn nội dung, sự tồn tại của chúng chỉ được xác minh thông qua việc được ghi chú, nhắc tên trong các nhật ký, thư từ hoặc danh mục cổ thời Joseon.

Tác phẩm hiện còn tồn tại (giữ được văn bản gốc): 1.125 bộ. Đây là các tiểu thuyết vẫn còn lưu giữ được bản thảo chép tay (필사본), bản in mộc bản tư nhân (방각본) hoặc bản in hoạt chữ.

Tác phẩm đã được đưa vào nghiên cứu: Trong số 1.125 bộ còn văn bản, giới hàn lâm đã tiến hành giải mã, dịch thuật và nghiên cứu học thuật chính thức đối với 1.028 bộ.

Tỉ lệ thất truyền lên tới hơn 63 % (1.965 tác phẩm) chủ yếu do đặc thù xã hội Joseon đề cao Nho giáo, coi nhẹ văn học hư cấu khiến tiểu thuyết thường chỉ được lưu hành ngầm trong dân gian trên các loại giấy dễ hư hỏng. Sự tàn phá của các biến cố lịch sử lớn như chiến tranh Nhâm Thìn (Imjin Waeran) và loạn Bính Tý (Byeongja Horan) cũng góp phần làm biến mất phần lớn di sản. Con số 1.125 bộ còn giữ được văn bản hiện là cơ sở dữ liệu định lượng cốt lõi và chính xác nhất về nền văn học hư cấu của Bán đảo Triều Tiên.

Việt Nam

Khác với sự đồ sộ lên tới hàng ngàn bộ như ở Trung Quốc hay Bán đảo Triều Tiên, số lượng tiểu thuyết của Việt Nam thời quân chủ vô cùng khiêm tốn.

Tiểu thuyết văn xuôi chữ Hán: Có chính xác 37 bộ tác phẩm. Con số định lượng này được xác lập thành chuẩn mực trong công trình Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam (4 tập, xuất bản năm 1997) do GS Trần Nghĩa thuộc Viện Nghiên cứu Hán Nôm chủ biên. Danh mục 37 tác phẩm này bao quát các thể loại từ chí quái, chí nhân, truyền kỳ (như Lĩnh Nam chích quái, Việt điện u linh, Truyền kỳ mạn lục) cho đến các dạng bút ký, dã sử có yếu tố hư cấu tự sự (như Vũ trung tùy bút, Tang thương ngẫu lục). Nếu tính cả các dị bản lai ghép Hán - Nôm được phát hiện thêm, con số này cũng chỉ dừng lại ở mức khoảng 40 tác phẩm.

Tiểu thuyết diễn ca chữ Nôm (Truyện thơ Nôm): Đặc thù nổi bật của tiểu thuyết trung đại Việt Nam là dùng thơ (chủ yếu là thể lục bát) thay vì văn xuôi để kể các cốt truyện dài. Thống kê của giới nghiên cứu Hán Nôm xác nhận có khoảng 50 tác phẩm truyện Nôm tiêu biểu, có cấu trúc nhân vật và cốt truyện hoàn chỉnh (như Kim Vân Kiều tân truyện, Hoa tiên ký diễn âm, Nhị độ mai diễn ca). Nếu tính gộp toàn bộ các truyện Nôm khuyết danh lưu hành trong dân gian, tổng di sản truyện thơ Nôm ước tính đạt khoảng hơn 100 đến 150 bộ.

Tiểu thuyết chương hồi (trường thiên tiểu thuyết): Xét khắt khe theo cấu trúc phân chia hồi mục và dung lượng tự sự đồ sộ, Việt Nam chỉ sáng tác chưa tới 10 bộ tác phẩm. Trọn vẹn và mang tính biểu tượng nhất trong số này là Hoàng Lê nhất thống chí (gồm 17 hồi) và Nam triều công nghiệp diễn chí (còn gọi là Việt Nam khai quốc chí truyện).

HUỲNH NGỌC CHÊNH 16.09.2026

Aucun commentaire:

Enregistrer un commentaire

Remarque : Seul un membre de ce blog est autorisé à enregistrer un commentaire.