Thập niên 70, một trong những cuốn sách liên quan tới Vũ Hoàng Chương và những nhà thơ đang sống ở cả miền Nam và miền Bắc, đã bị cấm một cách không chính thức. Đó là cuốn “Thi nhân Việt Nam” của anh em Hoài Thanh - Hoài Chân (tức Nguyễn Đức Nguyên - Nguyễn Đức Phiên).
Hai ông đều nổi tiếng, đều là yếu nhân của văn nghệ miền Bắc, nhưng lệnh miệng từ trên, trên, trên… không cho tái bản, xuất bản, không cho lưu hành thì cũng phải chịu. Thứ văn nghệ phục tùng chính trị ở miền Bắc những năm đó là vậy.
Không có văn bản giấy trắng mực đen gì sất, không ai công bố cấm này cấm nọ, chỉ rỉ tai nhau, chỉ nói như nói đùa, nhưng văn nghệ sĩ và tác phẩm cứ lăn ra chết. “Khẩu thiệt vô bằng”, rồi về sau có vụ nào đó được nhìn nhận lại, phục hồi, chiêu tuyết, thì ối ông nhảy ra phân trần tôi đâu có ác thế, thậm chí còn kể công.
Những vụ liên quan tới Hà Minh Tuân, Hữu Loan, Việt Phương, Phùng Quán, Phù Thăng, Hoàng Cát… đều vậy. Văn sĩ cộng sản có tính đảng còn bị đầy đọa oan ức, thân tàn ma dại, sự nghiệp tan tành, huống hồ “tên phản động” Vũ Hoàng Chương.
“Thi nhân Việt Nam” ra đời năm 1942, tất nhiên khi ấy hai ông Hoài chả phân biệt đâu là cách mạng hay không cách mạng, vô sản hay tay sai thực dân đế quốc. Cứ tài, thơ hay là được đưa vào. Có thể nói, đó là công trình vào hạng hay nhất về đánh giá văn nghệ Việt Nam đương thời, cùng với cuốn “Nhà văn Việt Nam” của Vũ Ngọc Phan. Mà chúng chỉ do các cá nhân tự mày mò làm, nghiên cứu, đánh giá, không như sau này đủ các thứ viện, ban bệ, tổ chức nhưng chả sản phẩm nào ra hồn.
Điều đáng buồn là, sau này, khi đã đi với cách mạng, thì ông Hoài Thanh lại phủ nhận ngay tác phẩm tâm đắc của mình, coi nó như thứ sai lầm, vớ vẩn, kém giá trị. Tương tự, Xuân Diệu từng ca tụng hơi ngượng miệng “Hôm nay học hết kỳ chỉnh đảng/Thấy bốn phương ánh sáng lùa vào”. Thế mới biết chính quyền vô sản tẩy não con người ta ghê gớm thật. Cá tính, ngang tàng như Nguyễn Tuân mà còn nín khe, chịu ngoan ngoãn lép một bề, nhận mình đã được cách mạng tẩy rửa trong “cuộc tái sinh màu nhiệm”, vậy thì đố ai dám “phá vây”. Hoài Thanh, Nguyễn Tuân, Xuân Diệu… đều dạng đáng thương cả, nạn nhân của thời cuộc sắt máu mang tên cách mạng vô sản.
Cuốn “Thi nhân Việt Nam” trong đó có Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Vỹ, Quách Tấn, Đông Hồ… “những kẻ đang phục vụ cho chế độ Mỹ ngụy” nên phải chịu sự phân biệt đối xử. Hay mấy giỏi mấy cũng là địch, theo địch. Ở miền Nam, Vũ Hoàng Chương là thi bá, là ông vua trong làng văn nghệ, nhưng ở miền Bắc ông bị khai tử.
Đám chúng tôi được biết, được đọc thơ Vũ Hoàng Chương là nhờ sự chiếu cố “đối tượng chính sách”. Sinh viên Văn trường Tổng hợp ngoài việc hằng tháng được đến rạp Kinh Đô hoặc Tháng Tám xem những cuốn phim “tư liệu” không cho chiếu rộng rãi ra ngoài như Anh em nhà Karamazov, Người thứ 41, Đàn sếu bay, Chiến tranh và hòa bình, Con đường đau khổ, Giamilia…, còn được cấp cho cái thẻ mỗi tuần một lần vào đọc ở phòng tư liệu khoa. Vũ Hoàng Chương bị án treo nằm trong này.
Phòng tư liệu khoa Văn trường Tổng hợp Hà Nội những năm 70 khá nhỏ, cỡ 20 mét vuông, chỉ bằng một nửa thư viện khoa của bác Chinh, cùng tầng 2 nhà C1. Phụ trách phòng tư liệu là cô Quý vợ thầy Đỗ Hồng Chung. “Lính” của cô là những cây đa cây đề, những tên tuổi lừng danh, trong đó có thầy Cao Xuân Hạo, thầy Phan Ngọc. Hai thầy bị quy dính vào Nhân văn giai phẩm nên chính quyền truất dạy, còn chút thương tình “tài thì nên trọng mà tình nên thương” cho làm ở phòng tư liệu. Cũng là một dạng án treo. Nhiệm vụ của các thầy là dịch tác phẩm văn học nước ngoài (Pháp, Anh, Nga, Trung, Đức)…) làm tư liệu cho khoa.
Nếu ai đã đọc những bản dịch “Chiến tranh và hòa bình” (của L.Tolstoi, người dịch Nhữ Thành và Trường Xuyên), “Những dòng nước mùa xuân” (Tsekhov, người dịch Nhữ Thành), “Triết học Hegel” (Nhữ Thành), “Con đường đau khổ” (A.Tolstoi, Cao Xuân Hạo dịch), “Cây phong non trùm khăn đỏ”, “Người thầy đầu tiên” (T.Aitmatov, Cao Xuân Hạo dịch), “Sử ký Tư Mã Thiên” (Nhữ Thành)… thì hẳn biết tầm của các thầy lớn, cao, thậm chí vĩ đại tới mức nào.
Nhữ Thành là bút danh của thầy Phan Ngọc, còn Trường Xuyên là thầy Cao Xuân Hạo. Chúng tôi không có cái may mắn được học hai thầy bởi các đấng bậc khi ấy đang chịu án treo, nhưng dẫu sao vẫn còn chút an ủi được nhìn thấy họ làm việc, được thừa hưởng những thành quả tuyệt vời của họ.
Kể lại chuyện này, lại nhớ đến bao nhiêu tài năng sáng chói đất bắc năm tháng đó bị vùi dập. Phùng Quán bị cấm xuất bản nên phải viết chui, nhờ người khác đứng tên, mà cũng năm thì mười họa chứ không dễ dàng gì.
Ai đã đọc những tác phẩm tuyệt vời của nhà văn Paustovski, nhất là “Bông hồng vàng”, “Chuyến xe đêm”, “Chiếc nhẫn bằng thép” đều khâm phục dịch giả Vũ Quỳnh, Kim Ân tài hoa trác tuyệt, chuyển tải ngôn ngữ hay không thể tả. Nhưng ít người biết đó là bác Vũ Thư Hiên, người bị treo bút bởi cái án vớ vẩn “Nhóm xét lại chống đảng”. Bác chịu cảnh tha phương lưu lạc xứ người gần ba chục năm sau khi ra tù, nay trở về cố hương, hiện ở Hà Nội, ai không tin cứ hỏi bác là rõ.
Tương tự bác Hiên và nhà văn Phùng Quán, nhà thơ Đoàn Phú Tứ công lao hãn mã với cách mạng cũng bị cấm in sách bởi sự ghét bỏ của nhà cai trị. Phải mượn bút danh Tuấn Đô dịch các tác phẩm văn học Pháp cổ điển để kiếm chút nhuận bút còm sống qua ngày.
Biết bao nhiêu tài năng, trí thức bậc thầy đã bị chính quyền công nông binh vô hiệu hóa khả năng đóng góp cho đất nước, cho đời. Phải sống trong sự đè nén bức bối "oan này còn một kêu trời nhưng xa", không phát huy được tài đức của mình. Nói cho cùng, đó cũng là tội ác. Họ còn bị vậy, nên Vũ Hoàng Chương chả là cái thá gì.
(Còn tiếp)
NGUYỄN THÔNG 02.09.2026

Aucun commentaire:
Enregistrer un commentaire
Remarque : Seul un membre de ce blog est autorisé à enregistrer un commentaire.