vendredi 6 novembre 2026

Tạ Duy Anh – Giá của một ký ức đẹp (1)

 

(Những mẩu văn)

Đó là tên tập sách tôi dự định sẽ xuất bản, như đã nói trước. Nó gồm 2 phần. Phần I-TRONG LÀNG, cũng là phần chính, gồm những mảnh ký ức của tôi, về nơi mình sinh ra, lớn lên, cho đến khi thoát ly khỏi làng năm 19 tuổi. Phần II-NGOÀI XÓM, có thể coi là Phụ lục, gồm ký ức về những trải nghiệm thiên hạ, chủ yếu ở quê vợ, khi tôi đã trưởng thành.

Căn cứ trên dung lượng và độ sơ sài trong nội dung của chúng, xin coi chúng là những mẩu văn, hoặc mảnh ký ức được thể hiện bằng chữ.

Từ thực tế trải nghiệm sống và quan sát ngôi làng của tôi, tôi mong đóng góp tí tẹo vào việc bảo tồn một phần không gian tinh thần, linh hồn của làng quê một thời nói chung. Vì thế, tôi rất vui nếu chúng giúp các bạn, nhất là những người trẻ có thêm hứng thú khám phá những giá trị văn hóa, đạo đức, lối sống truyền thống của ông bà, từ đó biết trân trọng cuộc sống hiện tại, tìm cách làm cho nó tốt hơn mỗi ngày.

Nếu không nhằm gây phiền toái, khó chịu cho bất cứ ai, mọi hình thức chia sẻ, sử dụng vào mục đích tốt đẹp đều không cần xin phép tác giả.

(PHẦN I-TRONG LÀNG)

1-ĐƯỜNG LÀNG

Thuở bé tôi thường mơ đến những con đường có thể chạy vòng quanh thế giới, những xa lộ, đường cao tốc... sáng rực ánh đèn. Rồi tôi đã nhìn thấy chúng ở khắp nơi, đã ngồi trên xe tốc độ hàng trăm cây số giờ lao vút qua trong cảm giác say ngây ngất. Nhưng khi đó tôi luôn cảm thấy mình là kẻ lữ hành nhỏ bé, cô độc. Dưới chân tôi, trước mặt tôi là vô vàn nguy hiểm, tai ương. Và tôi mệt mỏi bởi ý nghĩ: Chúng là đường đi hay là lối mòn tạo ra bởi những cơn lốc?

Khi đó tôi hay nhớ về đường làng. Với tôi nó không chỉ là con đường gầy guộc, chi chít vết chân người, vết chân trâu, mà nó còn là nhân chứng ghi nhớ tất cả những gì thuộc về tôi từ lúc tuột từ trên tay mẹ xuống đất. Đời người có hai cái mốc quan trọng: Bắt đầu và kết thúc. Đường làng là nơi tôi bắt đầu. Lần đầu tiên tôi được chạy một mình bằng những bước xiêu vẹo. Lần đầu tiên tôi làm cho người khác lo lắng. Lần đầu tiên có người cầu cho tôi “chân cứng đá mềm”. Liệu có ở đâu trên thế giới này ghi dấu nhiều về tôi đến thế?

Từ đường làng tôi ra đi, để tuổi thơ ở lại. Cha tôi bảo không được ngoái về phía sau, bởi vì tai ương luôn rập rình ở trước mặt. Tôi làm theo lời cha nhưng cứ lén nhìn xuống để thấy chi chít vết chân người. Có vết chân của nhiều đời chồng chéo lên nhau. Tôi đặt tiếp chân mình lên đó. Có ở đâu quá khứ được ghi nhớ nhiều và hiển nhiên đến thế?

Tôi đi chân trời, góc bể, ăn sóng nói gió, có lúc từng mơ bay tới các vì sao. Tôi mất hút từ bình minh đến hoàng hôn, mải miết và khốn khổ như con chim cô đơn dùng cánh đo bầu trời. Tôi tha thiết đi tìm một thế giới khác... Bỗng buổi chiều nào đó khi tôi đang ngả mình lơ mơ trên cỏ sau cả dặm dài mệt mỏi, tôi chợt nghe tiếng “vặt, hừu”; "vặt, diệt" như hát của một bác nông dân đang cày ruộng-lời đối thoại muôn đời với đất! Tức khắc tôi trở lại thành đứa trẻ mục đồng, như lời hò hẹn từ ngàn năm trước. Và, tôi bàng hoàng nhận ra rằng mình vẫn chưa ra khỏi con đường làng.

Như sự bừng ngộ chân lý, vừa là quà tặng vừa là sự trừng phạt của thời gian, tôi đau đớn và vui sướng đón nhận phát hiện muộn mằn: Với mỗi đời người sinh ra ở nhà quê, đường làng là con đường dài nhất.

2-BỜ RÀO

Thông thường một gia đình nông dân có chung bờ rào với ít nhất một gia đình khác. Dù là thân hay sơ thì bao giờ họ cũng dựng lên ở chỗ giáp ranh một cái bờ rào. Chức năng cổ sơ nhất của nó là phân định giới hạn địa phận.

Ngoại trừ những làng cổ, làng nghề do đất chật hoặc do nhu cầu bí mật nghề nghiệp, người ta mới xây tường ngăn, có chỗ cao lút đầu người, có cắm mảnh sành, mảnh sứ, thủy tinh hoặc chằng dây thép gai để chống vượt tường... còn lại, về cơ bản chức năng của bờ rào vẫn không thay đổi suốt những năm tháng dài cho dù thời gian từng xô đẩy nông thôn vào những cuộc chuyển mình như bão táp. Nghĩa là bờ rào truyền thống vẫn chỉ là đường vạch ranh giới, tồn tại trong ý thức nhiều hơn trong thực tế.

Vì thế hoặc chúng được rào “mắt cáo” con trâu chui lọt, hoặc được trồng bằng những cây không có gai, chẳng hạn như ngải cứu, thài bi, quá lắm là ô rô có lá răng cưa. Chúng đều là những loài cây hiền lành, có thể chữa bệnh. Ranh giới hai nhà nào đó thấy trồng tre hoặc cây có gai, chắc chắn giữa họ có vấn đề về quan hệ. Rào cao, kín như bưng, thêm một cái hào sâu... có nghĩa là không quan hệ. Chẳng qua chưa nói thẳng ra rằng nhà nào biết nhà nấy, cấm cửa!

Bởi vì bờ rào vốn là nơi diễn ra những giao hảo thân tình giữa hai nhà. Nơi có thể đối thoại không gò bó, không cần nghi thức (sang nhà người khác tối thiểu cũng phải áo xống cho nghiêm chỉnh). Nó vừa đảm bảo chủ quyền về lãnh thổ nhưng lại không quá cách biệt. Nó vừa đủ kín đáo mà không bít mất tầm mắt để hàng ngày, mỗi người tự do trên lãnh địa của mình nhưng không đến nỗi khuất mặt hàng xóm. Nó là cái cớ cho những hàn huyên, thăm hỏi nhau không chính thức, biếu nhau từ bát canh trở đi mà người biếu và người nhận không cần quá nhiều rào đón, nghi thức.

Bờ rào truyền thống, chỉ chia mà không ngăn, nó tạo ra cảm giác gắn bó, ấm áp chứ không lạnh lùng tách biệt.

Và cái bờ rào hóa ra cũng lại là nhân chứng trung thực của những biến đổi thời cuộc. Chỉ cần nhìn vào hình thức tồn tại cũng như chức năng của nó, có thể biết nhiều về nhân thế. Nó là chỉ số nhạy cảm cho sự thay đổi của bộ mặt nông thôn. Từ chức năng phân định ranh giới, nó chuyển dần sang chức năng an ninh và khu biệt. Khi chiếc bờ rào chỉ đơn thuần là tường ngăn lạnh lùng và kiên cố thì tình làng xóm cũng thay đổi cả về nội dung và hình thức. Những gì trước kia không thể thiếu được thì nay thành phiền toái, cản trở nhau làm ăn, phí thời gian một cách vô bổ. Được ở chỗ ấy mà cũng mất ở chỗ ấy.

Trước kia ngoài bờ rào là hàng xóm, còn nay chỉ là người ở cạnh mình.

(Kỳ sau: CẦU AO, NGÕ)

TẠ DUY ANH 06.11.2026

 

Aucun commentaire:

Enregistrer un commentaire

Remarque : Seul un membre de ce blog est autorisé à enregistrer un commentaire.