lundi 26 octobre 2026

Nguyễn Ngọc Chu – Hiến tạng : Đôi điều về cơ sở khoa học, pháp lý, đạo đức và hệ quả

 

1. Tiêu chuẩn hóa toàn cầu

Trên phạm vi toàn cầu, đại đa số các quốc gia đặt mốc từ đủ 18 tuổi trở lên làm điều kiện pháp lý tiên quyết để một công dân có quyền tự quyết định hoàn toàn việc hiến mô, tạng. Tuy nhiên, ranh giới tuổi tác này được luật hóa khác nhau giữa hiến khi còn sống và hiến sau khi qua đời.

Hiến tạng khi còn sống : 18 tuổi là chuẩn chung tuyệt đối.

Hiến tạng sau khi chết/chết não

- Mô hình nhất quán 18 tuổi : Chỉ những người từ đủ 18 tuổi trở lên mới có quyền tự ký thẻ đăng ký hiến tạng sau khi chết. Nếu một người dưới 18 tuổi không may qua đời, việc hiến tặng không phụ thuộc vào ý chí trước đó của đứa trẻ, mà phụ thuộc hoàn toàn vào quyết định nhân đạo của cha mẹ hoặc người giám hộ hợp pháp.

- Mô hình đồng thuận mở rộng : Cho phép thanh thiếu niên (từ 14–16 tuổi) tự đăng ký nguyện vọng hiến tạng sau khi qua đời khi làm căn cước hoặc bằng lái xe. Nhưng đây chỉ là sự ghi nhận nguyện vọng sơ khởi. Các nước theo mô hình đồng thuận mở rộng thiết lập rào cản nhiều tầng nghiêm ngặt để bảo vệ, trong đó có Quyền phủ quyết tuyệt đối của cha mẹ.

2. Quyền công dân, quyền bầu cử, quyền ứng cử, quyền hiến tạng và mâu thuẫn pháp lý

Đa số các nước, quỵ định quyền công dân, quyền bầu cử, quyền ứng cử và quyền hiến tạng đều từ 18 tuổi. Nhưng có khoảng 30 % số nước đòi hỏi quyền ứng cử phải từ 21 đến 30 tuổi. Ví như ứng cử ở Hạ viện ở Mỹ và Nhật phải đủ 25 tuổi, ứng cử Thượng viện ở Nhật phải đủ 30 tuổi ; ứng cử Đại biểu Quốc hội ở Việt Nam cũng yêu cầu phải đủ 21 tuổi trở lên.

Tại sao như vậy ? Đó là sự phụ thuộc vào mức độ trưởng thành để quyết định những việc hệ trọng.

Với số đông, như bản năng của tạo hóa, quyết định cắt bỏ cơ quan nội tạng của chính mình ảnh hưởng trực tiếp đến sinh mệnh cá nhân - được xem là quyết định hệ trọng hơn quyết định bầu cử và ứng cử. Sự hệ trọng này không thể biểu diễn chính xác theo kiểu tuyến tính toán học, nhưng rõ ràng, nếu quyền ứng cử đòi hỏi từ 21 - 30 tuổi, thì quyết định hiến tạng còn cần độ chín muồi tuổi tác không thấp hơn.

Ở mặt khác, trẻ em 14 -16 tuổi bị luật pháp coi là chưa đủ nhận thức để thực hiện các hành vi xã hội thông thường : không được bỏ phiếu bầu cử, không được ký hợp đồng kinh tế, nhưng lại được công nhận chữ ký trong việc "định đoạt số phận thể xác của chính mình". Đây là sự không tương thích logic pháp lý, tự mâu thuẫn trong việc định nghĩa "năng lực hành vi" của một con người.

3. Một số luận cứ khoa học về sự phát triển trí não con người

Khoa học thần kinh, tâm lý học phát triển và xã hội học cung cấp những bằng chứng thực nghiệm cho thấy tư duy của người dưới 18 tuổi chưa phát triển trọn vẹn. Sau đây là một số luận cứ chính.

a/. Sự chậm trễ của vỏ não trước trán

Đây là vùng não chịu trách nhiệm về các chức năng điều hành cao cấp : tư duy logic dài hạn, kiểm soát xung động, đánh giá rủi ro và hình dung về tương lai. Các nghiên cứu hình ảnh học hệ thần kinh chứng minh vùng não này chưa hoàn thiện cho đến năm 25 tuổi.

b/. Điểm kỳ dị của tuổi vị thành niên

Tuổi vị thành niên là khoảng thời gian phát triển đột biến của con người. Quyết định của trẻ em trong giai đoạn này phần lớn được dẫn dắt bởi vùng não cảm xúc và trí nhớ (limbic) vốn phát triển sớm hơn vỏ não trước trán. Hành vi của các em đôi khi đột ngột, lạ lùng. Bởi vậy việc giáo dục trẻ vị thành niên cần sự chú ý đặc biệt của cha mẹ và thầy cô. Nếu không đúng, tại điểm kỳ dị này, các em sẽ có những quyết định bất thường, đẩy cuộc đời rẽ sang một hướng bất lợi khác. Cho nên không thể dựa vào sự đòng ý của các em về hiến tạng trong giai đoạn này làm cơ sở pháp lý về sau.

c/. Sự biến đổi liên tục của nhận thức theo tuổi tác và hoàn cảnh

Trí tuệ con người không hoàn chỉnh tức thì, không phải là đại lượng cố định mà là một tiến trình tiến hóa liên tục. Cùng một vấn đề sinh tử, nhận thức của một người ở tuổi 15 (giai đoạn bộc phát), tuổi 30 (giai đoạn trưởng thành), tuổi 50 (giai đoạn chín chắn trải nghiệm) và tuổi 70 (giai đoạn đối diện với ranh giới cuộc đời) hoàn toàn khác nhau. Do đó, sự đồng ý hiến tạng lúc 15 tuổi hoàn toàn không có giá trị đại diện cho ý chí của chính con người đó khi ở tuổi 50. Việc luật pháp đóng băng lựa chọn của một đứa trẻ và áp đặt nó lên cả cuộc đời trưởng thành phía sau là vi phạm nghiêm trọng về logic khoa học hành vi.

d/. Mâu thuẫn về tính đồng thuận

Một quyết định y khoa có giá trị bắt buộc phải hội đủ: Thông tin, Năng lực nhận thức và Sự tự nguyện. Do cấu trúc não bộ đang trong giai đoạn "đột biến" và hệ giá trị nhân sinh quan chưa hề định hình ổn định, trẻ dưới 18 tuổi không thể đạt được tiêu chuẩn "Năng lực nhận thức hoàn chỉnh" đối với một vấn đề mang tính định đoạt thân thể lâu dài.

4. Không nhân văn

Không bàn về khoa học mà đề cập đến đạo đức.

Tuổi nhi đồng, mới chỉ ở giai đoạn đầu đời, đầy thơ ngây. Ở tuổi đó, tạo hóa không cho con người nghĩ về cái chết - ngay cả trong giấc mơ. Thế mà chúng ta khảo sát bé 7,8 tuổi, hỏi chúng về cái chết, muốn chúng cho đi quả thận của chúng… mà bản thân chúng không biết nằm ở đâu.

Tuổi thiếu niên 14 -16 đang mơ mộng yêu đương - nhờ ban phát của tạo hóa để bảo toàn nòi giống. Luật pháp đã chưa cho phép kết hôn, lại còn toan "vẽ ra bức tranh ngày tận thế", xin đi trái tim tràn máu nóng yêu thương vì “sự nhân đạo cứu giúp” ở đâu đó xa xăm.

Thật không nhân văn.

5. Nguy cơ thúc đẩy gia tăng tội phạm

Một hệ lụy khác khi luật pháp mở cửa cho việc hiến tạng dưới 18 tuổi là nguy cơ gia tăng tội phạm bắt cóc trẻ em và buôn bán người.

Khi rào cản tuổi tác bị xóa bỏ, cơ thể trẻ em lập tức bị biến thành một loại "hàng hóa y tế" có giá trị cao trên thị trường đen. Sự khan hiếm tạng ghép kết hợp với lợi nhuận khổng lồ từ thị trường phi pháp sẽ kích thích các đường dây tội phạm có tổ chức gia tăng săn lùng, bắt cóc trẻ em để lấy tạng.

Không chỉ ở thị trường “chợ đen”, dù y khoa hiện đại có đầy đủ kỹ thuật giải phẫu, định danh ADN để nhận biết tuổi của khối tạng, do sơ hở của hệ thống quản lý, tội phạm vẫn sẽ làm giả giấy tờ để đưa những đứa trẻ bắt cóc vào hệ thống dưới vỏ bọc hợp pháp "hiến tạng cứu người thân". Ở mặt khác, không loại trừ trẻ vị thành niên và cả người thân thúc đẩy bán tạng để giải cứu hoàn cảnh éo le. Dù vô tình, nhưng cũng là nhân tố làm gia tăng tội phạm.

Trẻ em là đối tượng yếu thế, không có khả năng tự vệ trước bạo lực và sự tinh vi của tội phạm buôn người. Nếu luật pháp không dựng lên một bức tường bảo vệ tuyệt đối bằng cột mốc tuổi tác, nhóm yếu thế mất đi lá chắn cuối cùng.

6. Về nhu cầu

Nguồn tạng để cứu người ở nước ta hiện còn thiếu. Nhưng xét trên toàn xã hội, tập hợp những người từ đủ 18 tuổi trở lên chiếm đại đa số dân số và là nguồn cung cấp tạng hiến đủ lớn (thực tế tại Việt Nam, số liệu từ Trung tâm Điều phối Quốc gia cho thấy 91,4 % số ca ghép đến từ người hiến sống, còn tỉ lệ hiến từ người chết não chỉ đạt 0,6 trường hợp trên một triệu dân). Điểm nghẽn nằm ở nhận thức xã hội về chết não, không phải do thiếu quy mô dân số trên 18 tuổi. Việc hạ độ tuổi xuống dưới 18 không làm tăng đáng kể số lượng tạng hiến trên tổng thể, lại vi phạm các nguyên tắc khoa học, đạo đức và quyền trẻ em ; thậm chí là có tội với thế hệ trẻ.

7. Hỏi ý kiến không có nghĩa là dân chủ

Không phải cứ hỏi ý kiến một bộ phận dân chúng là thể hiện dân chủ. Hỏi ý kiến phụ thuộc vào nhiều yêu cầu : hỏi về vấn đề gì, hỏi ai và hỏi như thế nào ?

8. Từ chối

Nhìn nhận một cách toàn diện, việc duy trì quy định nghiêm ngặt về độ tuổi tối thiểu 18 đối với người hiến tạng là hoàn toàn phù hợp với bối cảnh thực tế tại Việt Nam.

NGUYỄN NGỌC CHU 26.10.2026

 

Aucun commentaire:

Enregistrer un commentaire

Remarque : Seul un membre de ce blog est autorisé à enregistrer un commentaire.