jeudi 1 mars 2018

Trần Trung Đạo - « Status quo » Trung Cộng trên Biển Đông



Trong khi nhiều người Việt dành hết thời gian và năng lực ít oi của mình để chửi bới nhau, nhổ từng sợi tóc của nhau chỉ vì chuyện một căn phòng ngủ, một nhạc sĩ, một hoa hậu, một trận banh ... thì cách Đà Nẵng vài chục hải lý, Trung Cộng đang ngày đêm xây dựng “status quo”. 

Tập Cận Bình cần “status quo” mới để mai đây, nếu các hội nghị quốc tế, kể cả của Liên Hiệp Quốc, muốn bàn chuyện Biển Đông cũng phải bắt đầu từ những “status quo” đó vì họ Tập sẽ không dời một thành phố đã xây. Mời đọc dã tâm và ác ý của “Tân Hoàng Đế Đỏ” Tập Cận Bình trong bài viết về “status quo”.

TẬP CẬN BÌNH CHỦ TRƯƠNG ĐỘC CHIẾM BIỂN ĐÔNG

Người viết xin lỗi dùng tiếng Latinh trong bài viết, nhưng mục đích là để bàn về khái niệm này trong chủ trương của Tập Cận Bình trên Biển Đông. Ngôn ngữ Latinh có một danh từ kép đã trở thành quen thuộc và được dùng nhiều trong chính trị học là “status quo.” “Status quo” chỉ tình trạng của các điều kiện thực tế trước khi có sự thay đổi.

“Status quo” trong sinh hoạt xã hội

Vào thế kỷ thứ 14, danh từ này dùng để chỉ tình trạng hòa bình trước khi chiến tranh bùng nổ giữa hai nước, nhưng dần dần được áp dụng trong hầu hết các lãnh vực. Trong các cuộc thảo luận hay tranh luận các bên thường có khuynh hướng chấp nhận một “status quo” và đôi khi còn được xem đó như là một giới hạn mà nếu bị vượt qua sẽ tạo nên nhiều bất trắc.

Trong nhiều trường hợp “status quo” còn dùng để chỉ một tình trạng xã hội tiêu cực, lạc hậu. Khẩu hiệu của các phong trào cách mạng xã hội trong thế kỷ 17 và thế kỷ 18 nhằm thay đổi “status quo” qua đó hạn chế quyền của thiểu số như các quyền dành cho phụ nữ, quyền bầu cử, ứng cử và các tiêu chí xã hội thành văn hay bất thành văn.

Trong đàm phán chính trị, khi hai bên đồng ý duy trì “status quo” có nghĩa là hai bên chấp nhận tình trạng hiện đang là của một điều kiện về quân sự, địa lý, xã hội hay chính trị.

“Status quo” trong hai cuộc chiến tranh thế giới

Việc chấp nhận “status quo” thường diễn ra trong các cuộc tranh chấp lãnh thổ. Lý do, cả hai bên tranh chấp đều muốn phần lợi về mình nhưng đều không đủ bằng chứng thuyết phục bên kia hay quốc tế, và cuối cùng chấp nhận tình trạng thực tế, chỉ thảo luận vào các điểm mới thôi.

Trong thế kỷ hai mươi, trải dài suốt hai thế chiến, “status quo” được sử dụng nhiều nhất trong tranh chấp lãnh thổ tại Châu Âu. Sau Thế Chiến thứ Nhất, các quốc gia bại trận trong đó có Đức mất phần lớn lãnh thổ chiếm được trong các cuộc chiến tranh trước đó, bao gồm chiến tranh Pháp-Phổ. Sau khi lên nắm quyền, mục đích đầu tiên của Hitler là phục hồi lãnh thổ mà ông ta cho rằng vốn thuộc Đức.

Các nước mạnh, tự mình hay qua hình thức liên minh, đều nhắm tới việc hủy bỏ các “status quo” và thiết lập các “status quo” mới có lợi cho họ. Đức chiếm Tiệp Khắc. Ý chiếm Albani. Liên Xô tìm cơ hội mở rộng vùng ảnh hưởng phía Tây.

Hiệp ước bí mật Bất Tương Xâm (German-USSR Non-Aggression Pact) giữa Đức Quốc Xã và Liên Xô năm 1939 âm mưu chấm dứt “status quo” lãnh thổ và xẻ châu Âu làm hai, mỗi bên chiếm một phần. Đức chiếm Tiệp Khắc, Ba Lan, Liên Xô chiếm một phần Ba Lan và các quốc gia Baltic (Estonia, Latvia, Lithuania). Sau Thế Chiến thứ Hai, Stalin lẽ ra phải bị xử như một tội phạm chiến tranh, tuy nhiên, kẻ thắng trận bao giờ cũng đóng vai quan tòa và tội ác của quan tòa thường bị bỏ qua hay che lấp.

Anh và Pháp muốn bảo vệ “status quo” của Châu Âu nên đã nhiều lần lên tiếng phản đối hành động của Đức, Ý khi vi phạm một cách trắng trợn chủ quyền lãnh thổ của các quốc gia nhỏ yếu bị xâm lược. Tuy nhiên, Anh và Pháp, ngoài những lời tuyên bố và biểu dương lực lượng qua vài cuộc tập trận nhỏ, không có một hành động quân sự cụ thể nào chứng tỏ quyết tâm bảo vệ nguyên trạng lãnh thổ Châu Âu như đã phân định trong hiệp ước Versailles.

Chính sách chuột đồng của Trung Quốc

Mặc dù bộ máy tuyên truyền Trung Quốc luôn rêu rao chủ quyền Biển Đông không thể tranh cãi của Trung Quốc và đã chứng minh qua hai ngàn năm lịch sử, giới lãnh đạo cộng sản Trung Quốc (CSTQ) cũng biết những lý luận đó chỉ để đun nồi nước sôi dân tộc cực đoan Đại Hán, chứ không thể dùng để thuyết phục các quan tòa, một khi cuộc tranh chấp được đưa ra trước một tòa án quốc tế.

Bằng chứng, tháng Giêng năm 2013, chính phủ Philippines chính thức đệ trình hồ sơ kiện Trung Quốc trước Tòa Án Quốc Tế. Hồ sơ của Philippines nộp lên gồm mười bộ, với gần bốn ngàn trang tài liệu chứng minh chủ quyền của Philippines và phản bác các luận cứ cũng như quan điểm đường lưỡi bò chín đoạn của Trung Quốc. Trung Quốc từ chối tranh tụng trước tòa.

Chính sách truyền thống của Trung Quốc là gặm nhắm từng phần của Biển Đông. Sau Hoàng Sa, tháng 8 năm 1988, lần đầu tiên Trung Quốc đặt chân lên quần đảo Trường Sa sau trận Gạc Ma. Từ năm 1989 đến năm 1992, Trung Quốc chiếm một số đảo nhỏ khác của Trường Sa. Tháng 2 năm 1995, Trung Quốc chiếm đảo Vành Khăn (Mischief Reef) và một đảo khác do quân đội Philippines đóng.

Tập Cận Bình, một Mao mới trong thời đại toàn cầu hóa

Nhà bình luận Doug Bandow của Newsweek đưa ra câu hỏi liệu Tập Cận Bình sẽ trở thành một Mao thứ hai không phải là không có lý do. Khác với các lãnh tụ CSTQ sau Mao, Tập Cận Bình là nhà độc tài đầy tham vọng quyền lực. Nạn sùng bái cá nhân tại Trung Quốc tạm lắng trong ba chục năm qua đã bắt đầu tái phát. Bộ máy tuyên truyền CSTQ đang đánh bóng họ Tập như một lãnh tụ có quyền hạn tối thượng và tuyệt đối trong tập thể lãnh đạo Trung Quốc. Báo chí bắt đầu gọi y là “Lãnh tụ Trung tâm” (The CORE), một danh hiệu chỉ dành để chỉ Đặng Tiểu Bình.

Trong một bài bình luận đầu tháng Hai năm 2016 trên The New York Times, nhà bình luận Chris Buckley nhắc đến sự kiện ngày càng đông các lãnh đạo địa phương tuyên bố trung thành với họ Tập. Vai trò lãnh đạo tập thể của Ban chấp hành Trung ương Đảng, của Bộ Chính trị và Ban Thường trực Bộ Chính trị bị đặt qua bên. Lãnh đạo mới được hiểu theo hình tháp và trên đỉnh là duy nhất Tập Cận Bình, giống như trước đây chỉ có Mao.

Quách Kim Long (Guo Jinlong) tân bí thư thành ủy Bắc Kinh vừa tuyên bố một câu rùng rợn trên Bắc Kinh Nhật Báo : “Trật tự thế giới mà chúng ta sống đang tiến hành một sự điều chỉnh và về đối nội, đây là giai đoạn quan trọng của những thay đổi sâu sắc. Hơn bao giờ hết, chúng tôi cần một lãnh đạo tối cao.” Cho đến nay, ít nhất 14 trong số các lãnh đạo cao cấp của đảng tuyên thệ trung thành trước họ Tập.

Việc các viên chức cao cấp Trung Quốc tuyên thệ trung thành, thoạt nhìn chỉ là chuyện nội bộ của Trung Quốc. Tuy nhiên, điều này cũng nhắc lại sự kiện các viên chức cao cấp và tướng lãnh Đức phải tuyên thệ trung thành với Hitler khi ông ta vừa nhậm chức Quốc Trưởng Đức, và sau đó phát động chiến tranh thế giới. Không phải nhân dân Trung Hoa mà nhân dân các nước nhỏ láng giềng như Việt Nam, Philippines sẽ là những nạn nhân đầu tiên của “Lãnh tụ Trung tâm” này.

Tập Cận Bình muốn thiết lập một “status quo” mới trên Biển Đông

Theo Andrew Chubb trong một phân tích khá chi tiết trên The DiplomatThe South China Sea: Defining the 'Status Quo' - trước 2013, khái niệm “status quo” rất ít được sử dụng. Phía Trung Quốc chẳng những không dùng mà còn kết án.

Lý do?

Trong tình trạng hiện nay của quần đảo Trường Sa, số lượng đơn vị đảo do Trung Quốc chiếm (5 đơn vị) vẫn còn ít hơn số đảo Việt Nam đang giữ (21 đơn vị). Đơn vị được xác định theo tiêu chuẩn đảo, vùng đá nổi hay vùng đá chìm. Nếu một “status quo” chỉ dựa trong tình trạng hiện nay, chắc chắn không phải là một hiện trạng mà Trung Quốc muốn.

Trung Quốc có ý định phá vỡ “status quo” đang có để thiết lập một “status quo” mới phù hợp với quan điểm bành trướng đã phác họa trong “đường lưỡi bò 9 đoạn” và sau đó vào tháng 6/ 2014 lại tự ý bổ sung thêm một đoạn nữa. Trung Quốc tuyên bố khoảng 90% Biển Đông thuộc về Trung Quốc, và đó cũng là “status quo” mới mà Tập Cận Bình đang nhắm tới.

Để đạt được “status quo” mới đó, Tập Cận Bình đưa ra chủ trương gồm hai mặt. Mặt đối ngoại, Tập Cận Bình kêu gọi các bên tranh chấp tự chế các hành động quân sự và giải quyết mọi xung đột bằng các phương tiện hòa bình. Mặt đối nội, họ Tập chỉ thị cấp tốc quân sự hóa các vùng đã chiếm được.

Thoạt nghe, hai mặt, vừa thảo luận song phương hòa bình mà vừa lại quân sự hóa, dường như mâu thuẫn. Không, với họ Tập chủ trương hai mặt lại hỗ trợ cho nhau một cách hữu hiệu. Các cường quốc cũng như các nước đang tranh chấp không có một phản ứng thích hợp trước các hành động bành trướng ngang ngược của Trung Quốc.

Tập Cận Bình thúc đẩy “status quo” mới không chỉ bằng số lượng đảo chiếm được hay mở rộng vùng biển rộng, mà còn qua mức độ của việc xây dựng các đảo nhân tạo, phi trường, công trình dân sự, quân sự. Những phát triển này bị Hoa Kỳ kết án là vi phạm “status quo.” Lãnh đạo Trung Quốc lý luận việc xây dựng các phương tiện dù dân sự hay quân sự cũng chỉ xây dựng trên “lãnh thổ” Trung Quốc như họ đã làm từ nhiều năm nay chứ không xâm phạm lãnh thổ của quốc gia nào, và lập đi lập lai sẽ không dùng các phương tiện này để xâm lược các quốc gia khác.

Tập Cận Bình quân sự hóa Biển Đông

Việc Trung Quốc quân sự hóa những vùng chiếm được trên Biển Đông đã quá rõ ràng. Đô Đốc Harry Harris, Tư Lệnh Bộ Tư Lệnh Thái Bình Dương của Mỹ xác nhận “Điều đó quá rõ, trừ phi bạn nghĩ rằng trái đất nầy là một mặt bằng, bạn mới nói là là không.” Đô Đốc Harry Harris cũng tin rằng Trung Quốc đã đặt các giàn hỏa tiễn địa không trên đảo Woody (Phú Lâm). Sau hỏa tiễn, Trung Quốc phối trí các phi cơ chiến đấu cũng trên đảo Phú Lâm. Khác với những lần trước, lần này có vẻ các chiến đấu cơ này sẽ là phần của căn cứ không quân thường trực.

Sự hiện diện quân sự của Trung Quốc hiện nay trên Biển Đông chưa phải là một đe dọa trực tiếp đối với an ninh và quyền tự do hàng hải của Mỹ. Với sự chênh lệch còn quá xa về kỹ thuật và phương tiện chiến tranh nghiêng về phía Mỹ, nếu một xung đột quân sự xảy ra, những giàn hỏa tiễn và vài chiến đấu cơ đó sẽ nằm trong đáy biển trong vòng vài phút.

Tuy nhiên, với các quốc gia nhỏ trong vùng, sự hiện diện của chúng là những đe dọa trực tiếp. Sự ràng buộc và phụ thuộc vào nhau trong quan hệ kinh tế thương mại vô cùng sâu sắc và phức tạp giữa các cường quốc trong giai đoạn toàn cầu hóa như hiện nay, khả năng để Hoa Kỳ có thể can thiệp vào các xung đột giữa hai nước sẽ rất thấp.

Biết điều đó nên lập trường giải quyết xung đột của Trung Quốc từ trước đến nay vẫn là giải quyết song phương thay vì đa phương để nếu có leo thang cũng chỉ leo thang giữa hai nước. Không có liên minh quân sự, Việt Nam hay Philippines đều không phải là đối thủ của Trung Quốc.

Đáp lại lời phê bình của Ngoại Trưởng Hoa Kỳ John Kerry, Ngoại Trưởng Trung Quốc Vương Nghị mới đây nói rằng việc Trung Quốc phối trí quân sự trên Biển Đông cũng không khác gì Mỹ phối trí quân sự trong khu vực Hawaii.

Câu nói ngang ngược và ngu xuẩn vì không có nước nào tranh chấp chủ quyền với một tiểu bang của Hoa Kỳ, nhưng phản ảnh chủ trương của Tập Cận Bình không chỉ lấn chiếm mà còn dân sự hóa, quân sự hóa lâu dài, nói rõ hơn là thiết lập một “status quo” mới trên Biển Đông và đặt không chỉ riêng Hoa Kỳ mà cả thế giới trước một tình trạng đã rồi.

Rất tiếc, như lịch sử thế giới đã chứng minh, các thay đổi “status quo” về lãnh thổ đều dẫn đến chiến tranh. Con đường thoát duy nhất mà một nước nhỏ, trong trường hợp này là Việt Nam, phải chọn là thực hiện cho bằng được các điểm mà Trung Quốc né tránh và khai thác tối đa các điểm yếu của Trung Quốc.

Trong đó có (1) Dân chủ và hiện đại hóa đất nước, (2) Nhanh chóng chiến lược hóa vị trí Việt Nam, (3) Liên kết với các nước bất đồng quyền lợi với Trung Quốc để bao vây và cô lập Trung Quốc, và (4) Chuẩn bị chiến tranh bảo vệ tổ quốc.

26/06/2017
 
FB TRẦN TRUNG ĐẠO 01.03.2018

Aucun commentaire:

Enregistrer un commentaire