mercredi 15 avril 2026

Nguyễn Hồng Lam - Cách trời ba thước ba


Thống nhất tên gọi hành chính trên cả nước, đơn vị nhỏ nhất sẽ là thôn. Vậy là cõi mạng đầy tranh cãi. Thì có sao đâu. Cả ngàn năm nay, sau bao vật đổi sao dời, làng cứ là làng, là nơi "diệp lạc quy căn", có mất đi đâu. Gọi bằng gì thì vẫn "Ta sinh ra ở xứ Kẻ Ngù, đất Hoan Châu. Làng ta đó..."

Bài cũ, đăng lại. Làng là nơi ta nhắc suốt cuộc đời.

******

Thuở nhỏ, tôi sống ở quê ngoại, làng Trung Lệ, huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh. Chân vòng kiềng, tôi bước vào đời khụng khiệng và xiêu đổ. Đám học trò trường làng về ngang đầu ngõ thường gọi toáng lên: “Bồ ơi, ra cho cái này này!”. Cái dáng chạy lũn tũn, liêu xiêu của tôi khiến chúng cười lăn cười bò khoái chí.

Ngọng líu ngọng lô, tôi say sưa đọc thơ cho chúng nghe. Thơ Hồng Kiên, thơ Trần Đăng Khoa và thơ Mao Trạch Đông. “Ngã lập ư cương đỉnh. Cập thiên tam xích tam”. Những câu thơ đầy kiêu ngạo, dù không hề hiểu nghĩa. Tôi đọc bất cứ thơ ai mà tôi thuộc, lỡ không thuộc thì đọc bịa cũng chẳng sao.

Chất lượng nghệ thuật, thằng bé con mặc quần xẻ đũng là tôi không mấy quan tâm, chỉ mắt là cứ sáng lên với những đồng năm xu mà lũ học trò vừa tóm chim bẹo má vừa dúi cho. Tiền xu có cái lỗ tròn chính giữa tôi cất dành đánh đáo hoặc vặt lông đuôi gà trống nhét vào làm “kiện” đá cầu. Tờ tiền giấy màu tím, tôi đem đi mua quà – năm xu mua được hai quả ổi, hai chiếc kẹo gừng cay xé lưỡi, hoặc một vốc sim – đem khao chúng bạn. Với tuổi thơ tôi, thế đã là đại tiệc!

Tôi lên năm tuổi, cậu Thành sang nhà bảo mẹ: “Ả (chị) cho thằng Bồ theo tôi ra đồng mà mót lúa”. Vậy là tôi bỏ lớp mẫu giáo và đi, mang theo cái bị cói đựng ba cục đất bùn to cậu Thành vừa mới nắn cho. Khi những đống lúa hợp tác xã được gánh về kho, tôi liền lôi những cục bùn, “công cụ hành nghề” ra chấm liên tục lên đất để nhặt những hạt thóc rơi vãi. Chiều tắt nắng, bà ngoại lại đem nhưng cục bùn ấy ra ao vò ra, đãi sàng cho sạch rác rều và sỏi đá, lấy được chừng ba bơ lúa sạch đem phơi, bảo “cất dành xay nấu cơm cho thằng cu Bồ của bà ăn mau nậy (chóng lớn)!”.

Sau chấm đất đến quét đường và cuối cùng là mót lúa gié (nguyên bông) còn sót bên cuống rạ. Lũ con nít chúng tôi khóc ré lên và chạy trối chết mỗi lúc thấy bóng ông Đoàn bảo vệ đồng cầm cây roi cày dài những hai thước từ xa chạy đến. Ông sẽ thu lúa, thu bị. Tối bà hoặc mẹ đến xin thế nào cũng bị ông mắng cho một trận. Ngày nào cũng bắt, ngày nào cũng xin nên cứ nhác thấy bóng ông là chúng tôi lại hè nhau mà chạy. Tôi bé nhất nên ông chẳng nhìn ra, hoặc giả cố tình không nhìn ra, cứ chạy vượt qua luôn để đuổi bắt những đứa khác. Sợ hãi, tôi bổ ngoặt xuống ruộng sâu, bùn ngập tận bẹn. Mãi không rút chân lên được, thằng bé cứ thế mà tu tu đứng khóc. Xa xa, dăm con cò trắng móng tõe bùn non đứng kiễng một chân nghểnh cổ ngó đám con nít đang hè nhau chạy sấp ngửa, ra chiều phân vân lắm.

Đuổi không kịp những đứa kia, mà kỳ thực là cũng không muốn đuổi kịp, ông Đoàn quay trở lại túm bổng tôi lên đưa ra hói (sông đào), kỳ cọ cho tôi muốn bỏng da non. Bế thằng bé con trở lại ruộng, ông chìa cái bị, bảo các bà thợ gặt: “Cắt cho nó một bị đầy vào. Cơ khổ, ăn chưa no đã lo vác nặng. Chim nó còn chấm bùn, mót chi mà mót”. Xong, ông cõng cả tôi lẫn bị lúa “to nhất trần đời” về trả cho bà ngoại, dặn bà trông đừng cho tôi ra đồng, nắng nôi mà ốm thì phải tội. Ông vừa quay lưng, trút vội bị lúa ra chiếc nong ở giữa sân, tôi, thằng bé “chim chấm bùn” lại tót ra đồng, mặc phía sau bà ngoại lưng còng vẫn Bồ ơi, Bồ hỡi!

Trước sân nhà có một gốc đào cụ, e chừng tuổi cây nhiều gấp năm gấp mười tuổi tôi. Thỉnh thoảng, những bà thợ gặt đi ngang vẫn tạt vào xin tuốt nắm lá về tắm chữa sài đẹn, ghẻ chóc cho mấy đứa cháu ở nhà. Áp Tết, gốc đào cụ trổ hoa, bạt ngàn những cánh hoa màu hồng phớt. Người làng lại đến, mỗi người xin dăm ba cành về cắm độc bình chưng Tết.

“Vị nghệ thuật” chen lẫn “vị nhân sinh”, gốc đào nhà tôi cứ nhẫn nại để cho làng tha hồ vặt, cắt, để lại trên thân những đốm sần sùi. Cuối mùa xuân, lớp lông tơ trên những quả đào vừa ửng tía lên, đám trẻ con quần cộc đã suốt ngày bu đầy quanh gốc khèo, ném bằng đủ cách. Quả đầu mùa vừa chát vừa chua loét. Nhưng có hề chi, được tôi dắt về giao đãi, đám con nít cùng tuổi đã lấy làm sung sướng lắm, đến nỗi khi đào chín thì trên cây đã chẳng còn lại quả nào! Trong mắt chúng, tôi đích thực là một trang công tử giàu có và hào sảng.

Thật ra, lũ con nít làng tôi có đứa nào không lớn lên trong những cơn mê hào sảng. Khuất sau cổng làng xiêu xó, lẫn trong “toóc rã rơm khô” là cơ man những câu chuyện oai lừng về sự học. Chuyện kể rằng, thời hồng hoang, từ miệt rừng núi Hương Sơn có một con tê giác bỏ rừng về đồng bằng phá phách gây đại họa. Các xứ đuổi mãi không ăn thua. Đến làng tôi thì con tê giác bị đánh gục. Từ đó, tên làng được gọi là Ngu Lâm. Thời phong kiến, làng tôi khét danh là đất học, có không ít những ông nghè ông cử. Chẳng rõ tự đời nào, tên làng được cả xứ Nghệ tôn vinh bằng hai chữ Kẻ Ngù, nói lái từ Cụ Nghè.

Xứ Kẻ Ngù lọt thỏm giữa vùng chiêm trũng, đất thịt nặng, tứ thời chiêm khê mùa thối. Củ khoai hạt lúa sinh ra cũng cọc còi giống hệt con người của đất này. Con nít hỉ mũi chưa sạch đã biết nghêu ngao câu hát tự trào: “Béo như tru (trâu), về Kẻ Ngù cũng tóm (gầy) như dam (con cua đồng)”. Đất nghèo nhưng truyền thống tự tôn thì chẳng hề nghèo. Trong “nhị thập bát tú” (28 danh nhân) của tỉnh Hà Tĩnh, làng tôi có 4 cụ góp tên gồm các cụ Lê Ninh, Lê Văn Huân, Lê Thiệu Huy và Lê Văn Thiêm.

Năm 1885, Kinh thành Huế thất thủ, vua Hàm Nghi bôn tẩu ra Quảng Bình rồi ra Hà Tĩnh. Hưởng chiếu Cần Vương, cậu ấm Lê Ninh, một học trò cửa Khổng sân Trình ở làng tôi đã dấy binh, hội quân cùng cụ Phan Đình Phùng ở làng Tùng Ảnh, cùng huyện, mưu phò vua cứu nguy xã tắc.

Khởi nghĩa bị đàn áp, Pháp đốt trụi cả làng, chặt sạch cây cối, tre pheo, sau đó dựng lên ở bốn góc làng bốn chiếc chòi canh để giám sát mọi động tĩnh trong. Nhà nước bảo hộ bắt đổi tên làng Ngu Lâm thành làng Lạc Thiện. Nhưng đó chỉ là tên trên giấy tờ sổ sách, người làng nuốt hận vào tim tự gọi tên làng là làng Trung Lệ – giọt lệ trung - đôi khi đọc trại đi mà thành Trung Lễ, như muốn khắc sâu một quá khứ bi hùng.

Về sự học, người xứ Nghệ thường hay so sánh làng Kẻ Ngù quê tôi với với đất Kẻ Hạ, tức các làng Đông Thái, Tùng Ảnh cách đó non 10 cây số. Cả hai xứ đều không thiếu những bậc đại khoa. Chẳng ai định lệ, chỉ vô tình nhưng giữa hai xứ Kẻ Hạ – Kẻ Ngù cũng hình thành nên một mối lương duyên kỳ lạ. Trai tài gái sắc của hai bên thường được đem gả cho nhau. Khoảng giữa thế kỷ XIX, cử nhân Lê Văn Thống người làng Trung Lệ kết hôn với bà Phan Thị Đại, chị ruột của Đình nguyên Phan Đình Phùng ở làng Tùng Ảnh. Hai người sinh được 4 người con, 2 trai, 2 gái.

Tiếp bước tiền nhân, năm Bính Ngọ 1905, cụ Lê Văn Huân, con trai thứ của ông Lê Văn Thống và bà Phan Thị Đại đã đậu đậu Giải nguyên khoa thi Hương. Học giỏi khét danh nhưng sau khi đỗ đạt, cụ Giải Huân đã từ chối chốn quan trường để trở thành một nhà Cách Mạng. Cụ đã tham gia sáng lập Hội Phục Việt – Hưng Nam, sau đổi tên thành Tân Việt Cách mạng Đảng, tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam sau này để tập hợp lực lượng đấu tranh cứu nước. Ngày 13-9-1929, cụ bị thực dân Pháp bắt tại nhà. Sau một tuần tuyệt thực, ngày 20-9-1929, cụ đã dùng quản bút mổ bụng cắt ruột tự tử trong nhà lao Vinh (Nghệ An).

Cụ Lê Văn Nhiễu, anh trai của cụ Giải Huân cũng thi đậu cử nhân, đồng khoa với cụ Phan Bội Châu. Sau một thời gian ngắn làm Huấn đạo Phủ Tuyên Hóa, Quảng Bình, cụ Nhiễu treo ấn từ quan, về làng mở trường dạy học và bốc thuốc giúp dân. Cụ sinh được 10 người con trai, người nào cũng nổi tiếng thông minh xuất chúng. Năm 1918, ông Lê Văn Kỷ, con trai đầu của cụ cử Nhiễu đã đỗ đại khoa, trở thành một trong những ông Nghè của khoa thi Đình cuối cùng trong thời phong kiến.

Đúng 30 năm sau, năm 1948, người em út trong gia đình này là Lê Văn Thiêm đã trở thành người Việt Nam đầu tiên lấy được bằng tiến sĩ toán học tại Paris, trở thành một trong những người đặt nền móng cho ngành giáo dục đại học và ngành Toán học của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Anh cả kết thúc và em út mở đầu, đều là những ông người làng, cạnh nhà tôi cả!

Học rất giỏi nhưng tiến sĩ Lê Văn Thiêm vẫn phải bái phục một người cháu họ, thua ông ba tuổi tên là Lê Thiệu Huy. Ông Huy là con trai của nhà Hán học nổi tiếng, giáo sư Lê Thước, người thầy lớn của rất nhiều thế hệ học giả lỗi lạc của Việt Nam như Hoàng Xuân Hãn, Đặng Thai Mai, Tôn Quang Phiệt… Cụ Lê Thước vốn gốc họ Trần, cũng là một đại tộc ở đất Trung Lệ. Cụ tổ 4 đời của cụ Lê Thước khi còn nhỏ đã mồ côi cha, được bên ngoại nuôi nấng nên cải theo họ Lê của mẹ. Song thân của giáo sư Lê Thước là cụ Lê Trọng Liễu, tú tài khoa thi Hương năm 1906 và bà Lê Thị Ba, con gái của cụ Lê Văn Nhiễu.

Về quan hệ, giáo sư Lê Thước và tiến sĩ Lê Văn Thiêm là con cô cháu cậu. Thuở nhỏ nhà nghèo, cụ Lê Thước vừa cày ruộng vừa đi học chữ Hán. Năm 17 tuổi, cụ được chọn vào Huế học Quốc Tử Giám, đến 20 tuổi thì lấy được bằng Cao đẳng Tiểu học. Năm 27 tuổi, cụ giật Giải nguyên trường thi Hương Nghệ An. Không ra làm quan, cụ ra Hà Nội học trường Sư phạm Cao cấp Đông Dương. Tốt nghiệp thủ khoa, cụ được bổ về dạy nhiều trường Trung học ở Hà Nội, Vinh, Thanh Hóa. Đến năm 1943, cụ bị chính quyền thực dân sa thải vì lý do chính trị. Không nản, cụ lại tiếp tục học và có thêm một bằng y sĩ Tây y.

Hổ phụ sinh hổ tử, Lê Thiệu Huy, con trai cụ đã hoàn tất chương trình Trung học 9 năm chỉ trong vòng có 6 năm, được Toàn quyền Đông Dương cấp học bổng sang Paris du học. Không may, chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ đã chặn mất đường đến Âu Châu, anh ở lại theo học chương trình cử nhân khoa học Pháp mở ở Hà Nội.

Ba năm sau, mới 19 tuổi, Lê Thiệu Huy đã lẫy lừng trở thành người duy nhất trong lịch sử đại học nước Pháp tốt nghiệp ưu hạng ba chứng chỉ đại cương cùng một lúc là toán đại cương (loại giỏi), vật lý đại cương (loại giỏi) và hóa học đại cương (loại khá), đồng thời tinh thông nhiều ngoại ngữ. Giáo sư Burcher, nhà toán học lừng danh thế giới người Pháp gốc Do Thái đã phải thốt lên: “Tôi chưa bao giờ thấy, cũng không hy vọng gặp được lần thứ hai một người học trò xuất chúng như Lê Thiệu Huy”.

Sức học hơn người, chú cháu Lê Văn Thiêm - Lê Thiệu Huy đã cùng nhau ôm mộng chinh phục những vòm trời khoa học. Năm 1946, Pháp tái chiếm Việt Nam, Lê Thiệu Huy “xếp bút nghiên theo việc lao lung”, trở thành Tham mưu trưởng Liên quân kháng chiến Việt Lào. Mùa xuân năm 1946, mặt trận Savanakhet bị vỡ, Lê Thiệu Huy đã tổ chức bảo vệ Hoàng thân Xuphanuvông vượt sông Mê Kông thoát sang Thái Lan. Bị Pháp truy đuổi, ông đã lấy thân chắn đạn bảo vệ Hoàng thân, thanh thản nhận sự hy sinh về mình khi mới 26 tuổi. Tự hào và đau xót, ngay trên trang đầu tiên của bản luận án tiến sĩ viết bằng tiếng Đức của mình, nhà toán học Lê Văn Thiêm đã kính cẩn đề: “Để tưởng nhớ bạn Lê Thiệu Huy đã hy sinh cho Tổ quốc Việt Nam trên sông Mê Kông!”.

Thêm một chuyện khác. Trong làng có ông Lê Văn Luyện, thường gọi là cụ Hường Luyện, từng làm quan của triều đình Huế. Về hưu vẫn chưa hết ưu tư về nỗi vất vả của dân cày, cụ Hường đã lao tâm khổ tứ đấu tranh với viên Công sứ tỉnh Hà Tĩnh để được đào một con hói (sông đào) chảy ngay trước làng lấy nước tưới tiêu cho cả một vùng chiêm khê mùa thối. Sinh thời, phát hiện có anh học trò xứ Kẻ Trổ (nay là xã Đức Nhân, huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh), phía ngoài đê sáng dạ, cụ Hường đã đem anh này về nuôi cho ăn học, sau lại gả con gái cho.

Làm con nuôi nhà quan cụ nhưng ở xứ Kẻ Ngù thì cũng chẳng mong chi cảnh ngựa xe mãn phúc. Tay đun bếp lá tre, tay cầm quyển sách, anh học trò nghèo vẫn học rất giỏi. Đỗ đạt, anh vào Huế làm quan đến chức Ngự Tiền Đổng Lý văn phòng Hoàng đế Bảo Đại, từng thảo chiếu cho ông vua này thoái vị rồi theo Cách mạng. Anh học trò nghèo làng tôi đã ghi tên mình vào lịch sử của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà non trẻ bằng cuốn hồi ký “Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc”, ký chính tên là Phạm Khắc Hòe.

Nhắc tên ông để tự hào về sự học, các cụ bô lão trong làng thường tấm tắc: “Người tài có khác, chế độ nào cũng được tin dùng”. Cánh trai tráng trong làng cũng trầm trồ, nhưng lại theo chiều khác. Khảo lại chuyện ông Hòe vô Huế làm quan, được cụ Ưng Bình Khúc Giạ Thị mến tài, lại đem em gái gả cho, đám trai làng không thèm giấu diếm niềm ghen tị. Họ bảo: “Cái ông Hòe làng ni rứa mà sướng, đi mô cũng được người sang gả cho vợ đẹp!”...

... Đầu trần, chân đất, mang theo bùn đất nhọc nhằn vùng chiêm trũng và lòng tự tôn về một vòm trời tri thức cao vòi vọi vẫn mọc ngay chính giữa làng, lũ trẻ chúng tôi cứ hồn nhiên khôn lớn.

Tôi xa quê, lâu lắm mới có dịp ghé về. Bà ngoại tôi (cũng người họ Phan xứ Kẻ Hạ, lấy ông ngoại là người họ Lê đất Kẻ Ngù) đã hóa thành người thiên cổ. Bây giờ, làng chỉ còn toàn người già và con nít. Đám trai gái trong làng lớn lên vẫn mê mãi lao theo những hơn thua quay quắt mà không mấy đứa chịu quay về. Bao nhiêu người thành đạt, không ít tên tuởi lẫy lừng tung hoành kinh bang tế thế khắp bốn biển nhưng vẫn không giúp thay đổi được cảnh chiêm khê mùa thối ở quê nhà.

Cạnh bên làng, những thị tứ vẫn mọc lên liên tục. Cả cái thị trấn huyện khi xưa bé tin hin và đầy rêu ẩm mốc cũng đang nhấp nhổm thời mở cửa. Nhưng, đổi mới là ở tận đâu đâu chứ làng tôi thì tuyệt không. Hình như vùng chiêm trũng quê tôi chỉ co rúm mình chờ một ngày bị thành thị xóa tên. Vườn cũ chưa mất, nhưng cội đào xưa thì không còn nữa. Tôi ngồi ở quê mà chợt nhớ quê, nhớ tuổi thơ xưa vĩnh viễn không còn quay trở lại. Ngó miên man chỗ gốc đào xưa, giờ cải đã vươn ngồng, bùi ngùi thấy lòng mình mất mát đi nhiều lắm.

Chợt nhận ra nhớ thương cất lại trong lòng, nhưng muốn tìm quê cũ thì chớ có quay về…

Áp Tết năm ngoái (2004), tôi tình cờ gặp anh Thuần con chú Thắng, người đã mua nhà của bố mẹ tôi hơn 25 năm trước. Thuần giờ là một cán bộ ngành tài chính, nhà ở thị xã Gia Nghĩa, Đắc Nông. Chén rượu hội ngộ có thêm sự góp mặt của Thọ "Bịt", gã bạn thân từ thời mặc quần xẻ đũng đi mót lúa, khiến ba gã đồng hương say khướt nằm tranh nhau huyên thuyên chuyện làng trắng trọn một đêm. Sáng sớm, khi dậy múc nước rửa mặt, tôi chợt sững người. Bên bờ giếng, một cội đào phai đang đâm lộc non tơ, những cánh hoa hồng phớt tuyệt đẹp đang rưng rưng nở trong gió đông se sắt. Vỗ vai tôi, Thuần bảo: “Đào nhà mi đó. Tao chiết cành đưa vào đây từ năm kia. Đã đơm hoa được hai mùa”.

Thì ra, làng ở trong lòng, muốn tìm quê không chỉ cứ về quê. Cả hoa lẫn người làng tôi đều không mất, chỉ như chim tung cánh muôn phương và lặng lẽ kết trái đơm hoa ở một chân trời xa xôi nào đó.

Áp Tết Ất Dậu – 2005

NGUYỄN HỒNG LAM

Ảnh: Nhà cũ - 2007

Ngồi đây, nền cũ nhà hương hỏa

Đọc lại bài thơ buổi thiếu thời

Ai đó trong hồn ta thổn thức?

Vầng trăng còn tiếc cuộc rong chơi...

(Ta về - Tô Thùy Yên)

Aucun commentaire:

Enregistrer un commentaire

Remarque : Seul un membre de ce blog est autorisé à enregistrer un commentaire.