lundi 29 avril 2013

Ngày 29 tháng Tư : Ánh sáng tắt lịm (1)

Tìm mọi cách để di tản. Ảnh của Hồng thập tự  Quốc tế.
LND : Tác phẩm Saigon sụp đổ của nhà báo Pháp Olivier Todd xuất bản lần đầu năm 1987 và tái bản năm 2005,  kể lại bốn tháng đầu của năm 1975 lịch sử với các chiến lược quân sự, thủ đoạn chính trị và ngoại giao từ Washington, Matxcơva, Bắc Kinh, Hà Nội đến Saigon. Cuốn sách ghi lại lời chứng của các công dân nhiều quốc tịch, các quân nhân từ binh nhì cho đến tướng tá, các nhân viên tình báo, tu sĩ, thành viên tổ chức phi chính phủ…

Tác giả Olivier Todd từng làm việc cho tuần báo Le Nouvel Observateur, Tổng biên tập tuần báo L’Express, cộng tác viên BBC. Ông là một trong những phóng viên phương Tây hiếm hoi có dịp quan sát cặn kẽ những gì diễn ra tại Hà Nội, Saigon và vùng xôi đậu ở miền Nam.

Nhân ngày 30 tháng Tư, Thụy My xin trích dịch chương thứ 21 của tác phẩm, mang tên « Ngày 29 tháng Tư : Ánh sáng tắt lịm »

Chương XXI

Ngày 29 tháng Tư : Ánh sáng tắt lịm

Vào 4 giờ sáng ngày 29 tháng Tư, những loạt đạn pháo Bắc Việt ngày càng chính xác, tập trung vào căn cứ không quân Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng tham mưu Nam Việt và Bộ tư lệnh Hải quân. Các kho đạn dược và xăng dầu, những chiếc xe vận tải, xe jeep và xe dân sự bốc cháy tại sân bay. Bộ binh Bắc Việt chắc không còn xa, vì những phát đạn súng cối, rốc-kết làm bùng lên những ngọn lửa đỏ, xanh lơ và xanh lá cây.

Hai thủy quân lục chiến, Charlie McMahon và Darwin Judge, đã bị tử thương tại vòng rào phòng thủ. Tướng Homer Smith và các sĩ quan cao cấp Mỹ bị dựng dậy khỏi giường ngủ. Trong số 1.500 người Việt tạm cư ở nhà thi đấu thể thao, nhiều người đã bị thương. Một chiếc phi cơ C-130 bị trúng đạn sau khi hạ cánh.

Trời đã rạng đông. Các phi công của những chiếc F-5 và A-37 cuối cùng cất cánh, để không bao giờ quay trở lại. Những người này, cũng như vài phi công khác muốn tiếp tục chiến đấu khó điều khiển được máy bay, vì hàng trăm người lính Nam Việt tràn vào các đường băng. Các nhân viên điều khiển không lưu không thể làm việc được.


Người phi công Nam Việt lái một chiếc AC-119 đặc biệt bướng bỉnh. Anh bay lên làm nhiệm vụ, tấn công vào các vị trí quân cộng sản nhận ra được ở xung quanh Saigon, quay về tiếp nhiên liệu rồi lại bay đi. Vào lúc 6 giờ 46, anh bị một hỏa tiễn SA-7 bắn hạ.

Đại tá không quân Mỹ John Madison, một trong các sĩ quan trong Ủy ban giám sát Hiệp định Paris, gởi một bức điện cho phái đoàn miền Bắc ở trại David, đang trú tại các đường hào và hầm trú ẩn. Vị đại tá phản đối việc ném bom vào sân bay, mà ít nhất có thể nói là đã vi phạm quyền miễn trừ ngoại giao của các thành viên Ủy hội quốc tế, các phái đoàn quân sự hai bên và bốn bên.

Các đại diện của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam tại trại David ngọt ngào trả lời là họ không biết chuyện gì đã xảy ra. Ngoài ra, họ cho rằng không cần phải báo trước cho những người Ba Lan hay Hungary, những người này từ Tân Sơn Nhứt hỏi thăm tin tức nơi người Mỹ. Người Hung liên lạc với ông Polgar, buổi tối ông đã đến phòng điều động của tòa đại sứ. Tại đó, các nhân viên CIA tỏ ra lo sợ cho số phận của những cộng sự viên người Việt của họ.

Những quả đại bác 130 ly được các quan sát viên Bắc Việt chỉnh lại hướng, cách sân bay 4 km về phía bắc. Đối với tướng Văn Tiến Dũng và ông Lê Đức Thọ, tình hình khá tế nhị. Một mặt phải để cho người Mỹ ra đi, và như vậy không nên cản trở nhiều các hoạt động di tản. Mặt khác, hai lãnh đạo cộng sản, theo như chỉ đạo của Hà Nội, muốn duy trì áp lực để những người Mỹ ở Saigon cũng như ở Washington hiểu rằng không có chuyện thương lượng. Các đội quân Bắc Việt được lệnh không chọn mục tiêu là các máy bay và trực thăng, trừ phi bị họ tấn công. Chỉ trừ một vài ngoại lệ, chỉ thị này được tôn trọng.

Văn Tiến Dũng có thể luôn lo ngại sự can thiệp của không quân Mỹ đóng ở Thái Lan. Vào lúc này, nhiều thương vong của lính Mỹ có thể khiến Lầu Năm Góc can thiệp ồ ạt. Các lãnh đạo Bắc Việt không hiểu rằng quyền lực quân sự tại Hoa Kỳ bị lệ thuộc vào quyền lực dân sự đến như thế nào. Song song đó, người Mỹ luôn mãi tìm kiếm các phe nhóm và những rạn nứt trong ban lãnh đạo Hà Nội, vẫn không nhận ra sự gắn bó giữa các quân nhân và nhà chính trị tại thủ đô Bắc Việt.

Tướng Nguyễn Cao Kỳ cất cánh bằng chiếc trực thăng riêng, bay quanh Saigon, nhận ra những pháo đội Bắc Việt cứ bắn đi mỗi phút một phát đạn. Trên làn sóng thu thanh, ông bắt liên lạc được với một đội Skyraiders Al từ Cần Thơ bay về :
-         Nguyễn Cao Kỳ đây. Phải phá hủy các pháo đội này.
Phi đội trưởng trả lời :
-         Rõ. Tôi chỉ còn có một quả bom thôi.
Giờ phút của trận đánh danh dự cuối cùng đã điểm.

5 giờ 45, giờ Saigon. Ông Graham Martin đến tòa đại sứ. Lệnh cuối cùng của chỉ huy không quân Nam Việt: tất cả các phi cơ còn có thể hoạt động được phải rời khỏi lãnh thổ miền Nam.

6 giờ, giờ Saigon, theo giờ Hà Nội là 5 giờ. Tại Bộ chỉ huy ở Bến Cát, cách thủ đô Nam Việt 40 km về hướng bắc, tướng Văn Tướng Dũng nhận được điện của Bộ Chính trị, khen ngợi việc tiến quân của bộ đội trong những ngày vừa qua. Bộ Chính trị ra lệnh phải tiến nhanh để “tấn công chiếm lĩnh sào huyệt cuối cùng của địch”.

Vô số bức điện và cuộc gọi điện thoại liên tục nối kết giữa Nhà Trắng, Lầu Năm Góc ở Washington, Bộ tư lệnh Thái Bình Dương ở Honolulu, tòa đại sứ và cơ quan tùy viên quân sự ở Saigon. Các sự kiện diễn ra còn nhanh hơn là điện tín. Một bức điện của Bộ Ngoại giao nói rõ: “Thông tin truyền trên radio bắt sóng được từ nhiều chỉ huy Bắc Việt khác nhau cho thấy họ sẽ ba mặt tấn công vào Saigon vào một thời điểm không rõ, với khả năng chủ động sáng tạo của đơn vị khi có cơ hội”. Các thông tin này được Hội đồng An ninh Quốc gia phối kiểm. Một khẳng định khác: Bắc Việt muốn chiếm cho được Saigon để mừng sinh nhật Hồ Chí Minh vào ngày 19/5 “với khả năng bắt đầu tấn công vào những ngày cuối cùng của tháng Tư”. Hôm trước đó, sóng truyền tin bắt được cho biết sư đoàn 7 Bắc Việt được giao trách nhiệm chiếm Đài truyền hình Saigon.

Vào lúc 7 giờ, giờ Saigon và là 19 giờ Washington, Hội đồng An ninh Quốc gia họp dưới sự chủ trì của Tổng thống Gerald Ford. Tham dự có Henry Kissinger, James Schlesinger, các trợ lý của họ, chủ tịch Ủy ban các tham mưu trưởng liên quân – tướng George Browne, và giám đốc CIA William Colby. Ông này khẳng định từ ba ngày qua không còn hy vọng ổn định được tình hình quân sự. Nay thì rốt cuộc mọi người đều đồng ý. Nhưng ra lệnh gì cho Saigon bây giờ ?

Kissinger do dự. Theo ông thì trong lúc này cần phải tiếp tục di tản người Mỹ và người Việt bằng phi cơ. Schlesinger và Browne cho rằng cần khẩn cấp chuyển sang di tản bằng trực thăng. Browne đề nghị cho các máy bay tiêm kích hộ tống các phi cơ vận tải C-130. Kissinger phản đối, vì Bắc Việt có thể nghi ngờ.

Còn các nhân viên tòa đại sứ thì sao ? Cần giảm còn 150 người trong ngày, trong đó một phần ba là tình báo viên và nhân viên CIA. Frank Snepp được biết rằng ông thuộc nhóm đi cuối cùng.

Từ Honolulu, Đô đốc Noël Gayler, biết tánh đại sứ Martin, gởi điện: “Khuyến cáo của tôi là quý vị quyết định di tản bây giờ tất cả các nhân viên người Mỹ, trừ các thành viên mà quý vị muốn giữ lại thường xuyên tại chỗ…” Tướng Smith được Gayler cho phép đưa lên máy bay cả người Việt lẫn người Mỹ. Đô đốc muốn tránh bằng mọi giá việc các sĩ quan cấp tướng hay chỉ huy người Mỹ lọt vào tay quân cộng sản. Ông ra lệnh cho họ phải rời Saigon.

Vị Đô đốc nhấn mạnh, tình hình quân sự là trầm trọng. Ông đã đọc các bức điện của ông Polgar liên quan đến khả năng một dàn xếp về chính trị: “Các tin tức mà tôi có được không hề phù hợp với quan điểm có hơi quá lạc quan của ông Polgar”.

Về ông Polgar, Đô đốc sử dụng một câu cổ lỗ và khinh khỉnh một cách lịch sự: “I have the impression he may not be current” (Tôi có cảm tưởng là ông ấy không cập nhật tình hình), không nắm được thực tế mấy, không phải người trong cuộc. Theo tin tức của Đô đốc, thì bộ đội Bắc Việt chỉ cách sân bay Tân Sơn Nhứt chưa đầy hai cây số. Họ sử dụng rất hiệu quả các hỏa tiễn SA-7. “Bộ đội đã bắn rơi ba máy bay trong hai tiếng đồng hồ mới đây”.

Pháo binh Bắc Việt tiếp tục bắn vào khu vực phi trường.
Một đặc sứ của Tổng thống Dương Văn Minh trao cho đại sứ Mỹ bức thư:

“Ngài đại sứ kính mến,
Tôi trân trọng yêu cầu ngài ra lệnh cho các nhân viên văn phòng của tướng Smith rời Việt Nam trong vòng 24 giờ, bắt đầu từ ngày 29/04/1975 để vấn đề hòa bình tại Việt Nam có thể được giải quyết nhanh chóng”.

Ông Martin đang phải chịu di chứng của bệnh viêm phế quản. Ông đọc thư trả lời để đánh máy bằng giọng khản đặc:

“Kính thưa Tổng thống,
Tôi đã nhận được thư và xin thông báo với ngài là tôi đã ra lệnh như thế…”

Các tin tức từ Tân Sơn Nhứt cho biết đó đây có vài người lính Nam Việt bắn vu vơ vào người Mỹ. Ông Martin nói thêm:

“Tôi tin rằng ngài sẽ ra lệnh cho lực lượng vũ trang của chính phủ hợp tác bằng mọi cách nhằm tạo điều kiện cho các nhân viên Phòng tùy viên quân sự ra đi trong an ninh hoàn toàn.
Tôi cũng bày tỏ hy vọng là ngài sẽ can thiệp với phía bên kia để họ cho phép tùy viên quân sự và các nhân viên ra đi trong an toàn và trật tự”.
Kính
Graham Martin, đại sứ Mỹ”

Ngay khi tin này được biết, một số người khẳng định vụ này là một sự dàn xếp ngoắt ngoéo giữa ông Dương Văn Minh và ông Martin: đại sứ đã yêu cầu ông Minh.

Ông Martin ra lệnh cho tướng Homer Smith có biện pháp di tản tất cả nhân viên. Lần đầu tiên, vị tướng nhận được cùng một lệnh từ hai viên chức cấp trên: đại sứ Martin và Đô đốc Gayler. Chỉ có các binh sĩ thủy quân lục chiến phụ trách bảo vệ mới ở lại phi trường. Martin năn nỉ Kissinger để ông ở lại Saigon “ít nhất một hay hai ngày để còn giữ được danh dự cho cuộc ra đi”. Đại sứ giữ lại hai chiếc trực thăng của Air America để có thể ra đi nhanh chóng khi cần. Sau đó, đại sứ quán Pháp sẽ đại diện cho quyền lợi Mỹ tại Việt Nam. Martin mong muốn “được nhanh chóng thông qua”.

Trong yêu cầu của ông Dương Văn Minh, ông Martin nhận ra một lợi ích về chính trị và ngoại giao: người ta sẽ loan báo rằng người Mỹ ra đi “theo yêu cầu” của Nam Việt. Ông cho rằng như vậy cuộc di tản cuối cùng sẽ không có vẻ là do hoảng sợ. Kissinger giao cho Lawrence Eagleburger, trợ lý đặc biệt Ngoại trưởng nghiên cứu tình hình. Eagleburger soạn thảo một báo cáo rành mạch. Nếu để lại các nhân viên ngoại giao Mỹ ở Saigon, thì có vẻ như mặc nhiên công nhận chính phủ mới sẽ lên nắm quyền. Kissinger quyết định: sẽ đóng cửa tòa đại sứ.

Aucun commentaire:

Publier un commentaire