Hơn 30 năm trước, khi tôi từ Huế chuyển công tác vào Khoa Ngữ Văn Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, thì anh Chu Trọng Thu đã dạy ở đó nhiều năm.
Anh sống hơi khép kín, ít khi có mặt trong các cuộc vui, chỉ giao tiếp thân thiết với một số ít người. Chuyện trò với anh em trong Khoa cũng chừng mực, tiết chế, không thấy anh nói to cười to bao giờ.
Anh giỏi tiếng Trung, có lần tháp tùng Hiệu trưởng qua Đài Loan, đảm nhận công việc phiên dịch. Còn trong Khoa, anh cứ lẳng lặng làm bổn phận dạy học, và không hề nói gì đến chuyện nghiên cứu.
Nhưng một hôm, vui chuyện, anh bảo tôi: “Người Việt mình thích đặt tên con gái có chữ “Thùy”, có lẽ vì tiếng ta có từ “thùy mị” chỉ tính nết dịu dàng, dễ thương, hiền hậu của người con gái. Nhưng trong tiếng Trung, “thùy” là “rủ xuống”, là “cái mông”, tức xấu nghĩa. Cho nên, người Trung Quốc không mấy ai đặt tên con là “Thùy”. Còn Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn Yểu, thì tuy tiếng Trung có chữ “yểu”, nhưng khi nhắc đến tên ông, báo chí Trung Quốc thường viết chệch đi là “yếu”. Là vì chữ “yểu” là “chết non”, nghĩa xấu.”
Nghe anh nói, tôi giật mình. Đấy một quan sát rất tinh tế. Chỉ mấy câu của anh đủ để gợi ra một vấn đề thú vị: sự tương tác (chứ không chỉ là vay mượn) giữa tiếng Việt và tiếng Trung. Mở rộng ra, có thể xem xét sự tương tác giữa tiếng Trung với tiếng Hàn, tiếng Nhật – các ngôn ngữ gọi là Sino-Xentic; tức là ngôn ngữ có sự tiếp xúc lâu đời với tiếng Hán, trong từ vựng có một số lượng lớn từ gốc Hán. Đấy là đề tài chưa ai nghĩ tới. Tôi bụng bảo dạ, phải coi anh là thầy về tiếng Hán, để khi bí, thì người đầu tiên phải hỏi là anh.
Tôi thân với Phạm Văn Phúc, dạy văn học Việt Nam, người bao giờ tôi cũng quý trọng, vì thẳng tính, trượng nghĩa, theo kiểu thầy đồ nho ngày xưa. (Tôi học Cao học tại Đại học Sư phạm Hà Nội khóa 5 (1980-1982); Phúc thì khóa 6. Luận văn Cao học của tôi là do Phúc trong cái nóng nung người ở đất Bắc ngày hè, cởi trần ra đánh máy giúp; khi mệt, rời cái máy chữ, vớ cái điếu cày, rít một hơi thật dài, rồi nhả khói um nhà!).
Phúc cộc tính, mà anh Thu thì đằm. Phúc giọng sang sảng nhưng người nhỏ thó; anh Thu thì cao mà gầy, nói năng nhỏ nhẹ. Nhưng hai người rất thân nhau, thương nhau, không chỉ là do hợp tính mà còn do đều là con địa chủ bị đấu tố trong Cải cách ruộng đất.
Vóc dáng nhỏ bé của Phúc là hậu quả của Cải cách ruộng đất. Mẹ đang mang thai bị nhốt trong chuồng trâu, rồi sinh Phúc ở đấy. Nhà địa chủ, ai có lòng giúp miếng cơm tấm bánh cũng phải dấm dúi, mẹ làm gì đủ sữa nuôi con, Phúc không lớn nổi. Còn nhớ năm bố Phúc mất, tôi về quê Yên Mô (Ninh Bình) của Phúc viếng tang; Phúc đưa tôi đi trên đường làng, chỉ một cái giếng ven đường, nói cái giếng này là của nhà Phúc, sau Cải cách ruộng đất thành ra giếng làng.
Bố của Phúc chưa kịp bị đưa đi hành hình thì trên sửa sai, ra lệnh thả. Bố anh Thu không được may mắn như thế. Bố anh là bí thư chi bộ, là cán bộ Cộng sản thời 1930-1945; từng thường xuyên ra vào Sài Gòn để hoạt động. Trước hôm bị đấu tố, bố anh thì thầm với mẹ anh: “Tôi phải chết để con cái được sống”. Vì nếu bố bị “xử lý”, thì lý lịch con cái có vết đen, khó lòng ngóc đầu lên.
Bố lên một ngọn núi gần núi Tằm, treo cổ. Dưới gốc cây còn ghi mấy chữ ca ngợi Đảng và Bác. Đội Cải cách phát hiện mấy dòng này, bèn sửa mấy chữ thành có nội dung phê phán. Gia đình anh phải bó chiếu chôn bố, một cách vụng trộm. Không xa ngọn đồi chôn bố anh, đối diện với bến Tam Soa, sau này là mộ ông Tổng bí thư đầu tiên của Đảng, Trần Phú.
Cho dù đã được sửa sai, nhưng con cái người đã bị tròng cái thòng lọng “địa chủ” cũng đừng mong được đối xử như bình thường. Anh em nhà anh Thu không phải là ngoại lệ.
Anh vất vả lắm mới vào được đại học, khoa Trung văn. Đang học dở thì bị gọi đi bộ đội. Khi cuộc chiến tạm yên, anh mới được về học tiếp và lúc nào cũng lo ngay ngáy. Có lần anh tâm sự: Khi chuyển công tác vào Sài Gòn, anh như thoát nạn, có cảm giác thoải mái, tự do “như ở một nước khác”.
Đằng sau vẻ trầm tĩnh, là một con người quyết liệt. Khi anh gặp chị, chị nói thật với anh là mình không phải đảng viên. Và bất ngờ là câu trả lời của anh: “Chính vì thế mà anh mới lấy em làm vợ!”. Sau này con cái của anh trưởng thành, không một cháu nào làm việc cho nhà nước.
Những ngày Sài Gòn bùng lên các cuộc biểu tình chống Trung Quốc, trong đám đông dân chúng tụ tập, rất thường thấy có anh có chị lặng lẽ quan sát. Một lần, để chuẩn bị tham gia biểu tình, trên hàng chục tờ giấy là nội dung “Trường Sa, Hoàng Sa là thuộc Việt Nam” ghi bằng tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Pháp nhưng không có ai chuyển ngữ sang tiếng Trung. Tôi đến nhờ anh. Anh và đứa con trai lớn bò ra viết cho kịp!
Đặc sắc nhất là chuyện anh mua đất. Có một ít tiền, anh quyết đổi đời bằng cách mua đất. Dân có nhu cầu bán đất, anh có nhu cầu mua đất. Mà anh nghèo, muốn mua nhiều, lại rẻ thì chỉ có một cách: mua đất bằng giấy tay, chưa có giấy tờ chính thức. Anh rủ nhiều người cùng mua với anh, nhưng không phải ai cũng dám “đánh bạc” như anh.
Mấy năm sau chính quyền làm khó, đòi “thu hồi”. Anh kiên quyết đấu tranh và vận động người dân địa phương đấu tranh cùng anh. Rồi sóng gió cũng qua. Anh đổi đời thật! Sau này, anh đủ tiền cho con gái vào học trường RMIT (The Royal Melbourne Institute of Technology), học phí cao ngất ngưởng! Tôi hỏi anh: “Sao anh gan vậy?”. Anh nhẹ nhàng: “Mình phải thoát nghèo một cách tử tế. Và lúc ấy, đó là cách duy nhất”.
Anh về hưu, là về hẳn, không trở lại Khoa ngày nào. Rồi để nhà cửa vợ con ở Sài Gòn, anh một mình về quê, mua cả một phần ngọn đồi ở thôn Vĩnh Khánh, xã Trường Sơn, huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh. Anh cất một ngôi nhà hai tầng giản dị nhưng chắc chắn, tự tay khai phá, trồng cây, nuôi ong.
Đầu tháng Chín năm ngoái, nhân có việc đi Vinh, tôi đi tắc xi sang Hà Tĩnh thăm. Qua điện thoại, anh hướng dẫn chi li cách đi, giọng mừng rỡ. Chắc là sống một mình, thèm bạn. Anh vốn ở bến Tam Soa, năm 1968 bom Mỹ đánh dữ quá, mới chuyển nhà đến địa điểm hiện nay, chỉ cách bến Tam Soa chừng nửa cây số.
Nhà ngay dưới chân đồi, có một lối đi xây xi măng lên đến đỉnh. Anh vui vẻ đi trước dẫn bạn, chỉ trỏ cây này cây kia, bên này là cây ăn trái, bên kia là cây thuốc nam, lác đác mấy đõ ong dưới tàn cây xanh mát. Có cả một cái bể nước lớn tướng trên đỉnh đồi, nên đồi tuy cao nhưng tưới rất tiện: chỉ cần bơm nước đầy bể, rồi mở khóa là nước tự chảy vào cây.
Nhìn đống phân chuồng ủ trấu, tôi nhớ có lần ở Sài Gòn, anh đưa tôi đến vườn nhà anh để hái cho tôi một ít rau. Ấy là một khoảng đất rộng, có rào giậu cẩn thận, rau mọc xanh um. Ở góc vườn là một cái lều chứa phân cực lớn; anh bảo phải về Đồng Nai, đến một trại gà, mua phân đầy một xe tải chở về. Trong sâu thẳm, anh vẹn nguyên là một anh nông dân yêu đất đai, thích trồng trọt. Nhưng là một nông dân trí thức, ham hiểu biết. Nhà anh từng có một giàn phong lan quanh năm nở hoa. Hoa lan của anh không phải là thứ mua ngoài chợ: anh tự tay nuôi cấy mô cho giàn lan của mình.
Tôi đứng trên đồi, lòng bâng khuâng nghĩ đến lúc bố anh đút đầu vào dây thừng ở ngọn núi thời Cải cách ruộng đất. Thời ấy đã xa chưa? Cây xanh trên ngọn đồi nhà anh cứ dập dềnh tàn lá.
Mới giữa tháng Ba năm nay, đang ở Hà Nội, tôi nhận được điện thoại của anh, báo tin đã ở Sài Gòn và muốn đi cà phê với tôi. Không thể ngờ được đó là lần anh trở lại Sài Gòn để chữa bệnh và là lần chuyện trò cuối cùng giữa anh và tôi. Bệnh của anh đã ở giai đoạn cuối. Rồi không lâu sau đó, anh đi qua bờ bên kia, gặp Phạm Văn Phúc.
Hôm nay gia đình anh làm lễ cúng 49 ngày. Theo nhà Phật, đấy là ngày chung thất. Một người như anh tôi tin nhất định sẽ siêu thoát và vào được cảnh lành.
HOÀNG DŨNG 06.06.2025


Aucun commentaire:
Enregistrer un commentaire
Remarque : Seul un membre de ce blog est autorisé à enregistrer un commentaire.